Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận chung về đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại Ngân hàng thương mại Chương 3:“Thực trạng công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt” Chương 4:“Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại Ngân hàng TMCP Bưu Điện”Liên Việt. 6 CHƢƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ“ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG”MẠI 2.1“Khái quát về thẩm định dự án đầu tƣ vay vốn tại các Ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái quát chung về Ngân hàng thương mại “Khái niệm về Ngân hàng thương mại” Theo Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính ngày 24/05/1990 (Khoản 1, Điều 1): "Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách dưới những hình thức khác nhau với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, để chiết khấu và để làm phương tiện thanh toán". Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (Khoản 3, Điều 4) “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy,“có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính có đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Đồng thời, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác để thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.” Chức năng của NHTM Chức năng trung gian tài chính Chức năng trung gian tài chính được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM.“Khi thực hiện chức năng trung gian tài chính, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần 7 tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất”mang đến lợi nhuận lớn nhất cho NHTM. “Chức năng trung gian thanh toán Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.” “Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.
Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.” “Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng”khác của NHTM là chức năng trung gian tài chính và chức năng trung gian thanh toán.
Thông qua chức năng trung gian tài chính,“ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương”quy định. Do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn. 8 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Hoạt động huy động vốn Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng.
Vốn được ngân hàng“huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như: Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác; Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước; Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác; Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước” Hoạt động tín dụng Trong các hoạt động cấp tín dụng,“cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất. NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau: - Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. - Cho vay trung hạn và dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời”sống. Ngoài hoạt động cho vay, NHTM còn cấp bảo lãnh, chiết khấu và cho thuê tài chính với các cá nhân, tổ chức.
Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Dịch vụ thanh toán bao gồm: - Tài khoản: NHTM mở tài khoản cho khách hàng và chịu trách nhiệm quản lý số dư cũng như các giao dịch phát sinh qua tài khoản đó. - Dịch vụ thanh toán: Dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ thanh toán xuất khẩu, séc, trả lương tự động. - Dịch vụ ngân quỹ bao gồm các hoạt động: dịch vụ thu đổi tiền; dịch vụ chi tiền mặt tại đơn vị, dịch vụ vận chuyển tiền mặt; dịch vụ kết nối thu hộ tiền điện, tiền nước, tiền bưu điện. “Các hoạt động khác Bao gồm các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, 9 thực hiện các nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá bằng ngoại tệ và đồng Việt Nam; kinh doanh ngoại hối; nghiệp vụ ủy thác và đại lý; cung ứng dịch vụ bảo hiểm, kinh doanh các nghiệp vụ chứng khoán thông qua công ty trực thuộc; cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ; cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm”đồ.2“Thẩm định dự án đầu tư vay vốn trên góc độ Ngân hàng thương mại” 2.1 Khái niệm“thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại Ngân hàng thương mại” “Thẩm định dự án đầu tư nói chung là việc tổ chức xem xét một cách khách quan và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận hành, khai thác và tính sinh lợi của các công cuộc đầu”tư.
Đối với các NHTM với vai trò là tổ chức cho vay vốn đối với các dự án đầu tư, thẩm định dự án là quá trình ngân hàng tổ chức kiểm tra, đánh giá, xem xét lại dự án đầu tư một cách khách quan, khoa học và toàn diện trên các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của dự án đầu tư để ra quyết định cho vay hay không cho vay đối với dự án đầu tư đó.2“Nội dung thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại các Ngân hàng thương mại a. Thẩm định khách hàng vay vốn” “Thẩm định năng lực pháp lí: Người vay phải có đủ năng lực pháp lý theo qui định của pháp luật trong quan hệ vay vốn với ngân hàng. Đối với thể nhân vay vốn (tư nhân, cá thể, hộ gia đình): Người vay phải có quyền công dân, có sức khoẻ, kỹ thuật tay nghề và kinh nghiệm trong lĩnh vực sử dụng vốn vay, có phẩm chất, đạo đức tốt. Đối với pháp nhân: Phải có đầy đủ hồ sơ chứng minh pháp nhân đó được thành lập hợp pháp, có đăng ký kinh doanh, có giấy phép hành nghề, có quyết định bổ nhiệm người đại diện pháp nhân trước pháp luật.
Những giấy tờ này phải phù hợp với các qui định trong các luật tổ chức hoạt động của loại đó như: luật doanh nghiệp Nhà nước, luật công ty, luật doanh nghiệp tư nhân, luật kinh tế tập thể, luật đầu tư nước ngoài.” 10 “Thẩm định tính cách và uy tín: Mục tiêu thẩm định về tính cách và uy tín của khách hàng nhằm mục đích hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro do chủ quan của khách hàng gây nên như: rủi ro về đạo đức, rủi ro về thiếu năng lưc, trình độ, kinh nghiệm, khả năng thích ứng với thị trường. Đề phòng, phát hiện những âm mưu lừa đảo ngay từ ban đầu của một số khách”hàng. “Thẩm định năng lực tài chính của khách hàng: Đánh giá chính xác năng lực tài chính của khách hàng nhằm xác định sứ mạnh tài chính, khả năng độc lập, tự chủ tài chính trong kinh doanh, khả năng thanh toán và hoàn trả nợ của người vay. Ngoài ra còn phải xác định chính xác số vốn chủ sở hữu thực tế tham gia vào phương án xin vay Ngân hàng theo qui định của chế độ cho vay” b.
Thẩm định Dự án đầu tư Thẩm định khía cạnh pháp lý của dự án Đây là nội dung đầu tiên được xem xét khi thẩm định dự án đầu tư. Nội dung“thẩm định khía cạnh pháp lý của dự án bao gồm: - Thẩm định tư cách pháp nhân, năng lực của chủ đầu tư dự án - Thẩm định sự phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt” - Thẩm định sự phù hợp của dự án với các văn bản pháp quy của Nhà nước, các văn bản phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán,.