mở đầu, diễn biến và kết thúc một cách rất rõ rệt, được diễn ra trong không gian và thời gian xác định, dần dần tiệm cận tới chân lí. Nhận thức, tình cảm, ý chí là ba mặt hoạt động tâm lí cơ bản của đời sống tinh thần của con người. Nhận thức phản ánh bản thân đối tượng, tình cảm phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể với đối tượng có liên quan đến nhu cầu của nó, còn ý chí là sự phản ánh mức độ bền bỉ – vượt khó trong hành động. Nhận thức, tình cảm và ý chí có quan hệ tương hỗ với nhau trong hoạt động tâm lí của chủ thể.
Nhận thức được coi là một hoạt động tâm lí bởi vì nó có đối tượng là các bài toán nhận thức. Trong đó có những hoạt động nhận thức cụ thể như cảm giác, tri giác, tưởng tượng, tư duy mà những hoạt động này đều do một hệ thống động cơ thúc đẩy. Mặt khác, mỗi một hành động nhận thức cụ thể đó lại hướng vào thực hiện một mục đích xác định. Đồng thời, mỗi một hành động nhận thức lại bao gồm một hệ thống thao tác sắp xếp theo một hệ thống phù hợp với cấu trúc của đối tượng và được thực hiện trên cơ sở những điều kiện kinh tế – văn hoá – xã hội, tâm – sinh lí của chủ thể, cũng như những phương tiện như hệ thống tri thức – kĩ năng – phương thức tư duy và phương tiện vật chất – tâm lí nhất định.
Nhận thức của con người được chia thành hai giai đoạn là nhận thức cảm tính bao gồm quá trình cảm giác – tri giác và giai đoạn nhận thức lí tính bao gồm quá trình tư duy và tưởng tượng. Tuy là hai giai đoạn nhưng chúng lại thống nhất với nhau trong là một quá trình nhận thức toàn vẹn làm cơ sở cho hành động cải tạo thế giới của chủ thể. Nhận thức cảm tính – mặc dù là giai đoạn thấp nhất của quá trình nhận thức song kết quả của nó là cơ sở của các quá trình nhận thức cao hơn. Các quá trình nhận thức ở giai đoạn nhận thức lí tính, mặc dù có sâu sắc, trừu tượng và khái quát đến mấy đi chăng nữa cũng không thể tách rời nhận thức cảm tính.
Giữa hai giai đoạn này có một quá trình trung gian gọi là biểu tượng. Phương tiện cơ bản của hoạt động nhận thức là ngôn ngữ. Đi kèm với quá trình nhận thức là một trạng thái tâm lí - đó là chú ý. Thực tiễn là cơ sở kiểm nghiệm của nhận thức.
a) Nhận thức cảm tính ❖ Cảm giác - Khái niệm: Cảm giác là một quá trình tâm lí phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật và hiện tượng trong thực tại khách quan, khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta. Ở con người, cảm giác là mức độ định hướng sơ khai, đơn giản nhất mang bản chất xã hội – lịch sử, được phát triển nhờ hoạt động – giao tiếp. Trong cơ chế sinh lí của nó, ngoài hệ thống tín hiệu thứ nhất ra còn có cả cơ chế thuộc hệ thống tín hiệu thứ hai. Cảm giác đóng vai trò là cơ sở cho mọi hoạt động nhận thức của con người.
Cảm giác có các đặc điểm cơ bản như mang tính xã hội – lịch sử, có tính quá trình, 8 phản ánh một cách trực tiếp từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng. Ngôn ngữ có tác dụng làm tăng hay giảm cảm giác. - Các loại cảm giác Theo vị trí của nguồn kích thích gây ra cảm giác, người ta chia nó thành hai loại là cảm giác ngoài gồm có các cảm giác nhìn, nghe, ngửi, nếm, xúc giác da và cảm giác bên trong bao gồm các cảm giác vận động – sờ mó, thăng bằng, rung và cảm giác cơ thể. - Những quy luật cơ bản của cảm giác + Qui luật ngưỡng cảm giác: Muốn có cảm giác thì phải có sự kích thích vào các giác quan, nhưng không phải bất cứ kích thích nào tác động vào giác quan cũng đều gây ra cảm giác.
Muốn gây ra cảm giác thì kích thích đó phải đạt tới một giới hạn nhất định. Giới hạn đó được gọi là ngưỡng cảm giác. Cảm giác có các ngưỡng sau: Ngưỡng cảm giác phía dưới là giới hạn tối thiểu mà ở đó kích thích vừa đủ để gây ra được cảm giác. Khả năng cảm nhận được kích thích này được gọi là độ nhạy cảm của cảm giác.
Ngưỡng cảm giác phía trên là giới hạn tối đa mà ở đó kích thích vẫn còn gây nên được cảm giác (từ đó trở đi mất cảm giác). Mỗi giác quan thích ứng với một loại kích thích nhất định và có những ngưỡng xác định. Ngưỡng sai biệt là mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hay tính chất của hai kích thích đủ để ta phân biệt được hai kích thích đó. Khả năng cảm nhận được sự khác nhau giữa hai kích thích gọi là độ nhạy cảm sai biệt.
Ngưỡng cảm giác phía dưới và ngưỡng sai biệt tỉ lệ nghịch với độ nhạy cảm của cảm giác và độ nhạy cảm sai biệt. Ngưỡng phía dưới càng thấp thì độ nhạy cảm càng cao; ngưỡng sai biệt càng nhỏ thì độ nhạy cảm sai biệt càng cao. Những ngưỡng này khác nhau ở mỗi loại cảm giác và ở mỗi người. + Qui luật thích ứng cảm giác Để đảm bảo cho sự phản ánh được tốt nhất và bảo vệ hệ thần kinh khỏi bị hủy hoại, cảm giác của con người có khả năng thích ứng với kích thích.
- Tính thích ứng là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích. Có nghĩa là khi cường độ kích thích tăng thì độ nhạy cảm của cảm giác giảm, khi cường độ kích thích giảm thì tăng độ nhạy cảm của cảm giác. Ví dụ: khi ta đang ở chỗ sáng (cường độ kích thích của ánh sáng mạnh) mà vào chỗ tối (cường độ kích thích của ánh sáng yếu) thì lúc đầu không nhìn thấy gì cả, phải sau một thời gian ta mới dần dần thấy rõ (thích ứng). Trong trường hợp này đã xảy ra hiện tượng tăng độ nhạy cảm của cảm giác.
- Qui luật thích ứng có ở tất cả các loại cảm giác, nhưng mức độ thích ứng ở các cảm giác khác nhau thì khác nhau. Có những loại cảm giác có khả năng thích ứng cao như thị giác (trong bóng tối tuyệt đối thì độ nhạy cảm với ánh sáng tăng tới gần 200.000 lần sau 40 phút), cảm giác đau thì khả năng thích ứng rất kém. Khả năng thích ứng của cảm giác có thể phát triển do hoạt động và rèn luyện (công nhân luyện kim, có thể chịu đựng được nhiệt độ cao tới 50°C - 60°C trong hàng giờ đồng hồ) 9 Qui luật này thể hiện rõ ở sự thích ứng nghề nghiệp của người lao động. Nhờ có tính thích ứng mà cảm giác của con người có thể phản ánh những kích thích có cường độ biến đổi trong một phạm vi rất lớn.
Nếu được rèn luyện đúng đắn thì tính thích ứng sẽ phát triển rất cao và trở nên bền vững. + Qui luật tác động qua lại giữa các cảm giác Tác động qua lại giữa các cảm giác là sự thay đổi tính nhạy cảm của một cảm giác này dưới ảnh hưởng của một cảm giác kia. Có nghĩa là: Khi kích thích nhẹ vào cơ quan phân tích này sẽ tăng độ nhạy cảm của cơ quan phân tích kia. Kích thích mạnh vào cơ quan phân tích này sẽ làm giảm độ nhạy của cơ quan phân tích kia.
Ví dụ: trong phòng có mùi thơm dễ chịu sẽ làm cho mắt ta nhìn tinh hơn. Hay khi ta nấu chè mà nếm lúc còn nóng sẽ cảm thấy không ngọt bằng lúc chè nguội. - Sự tác động qua lại giữa các cảm giác còn được thể hiện ở chỗ là từ một cảm giác này có thể tạo ra một cảm giác khác. Chẳng hạn ta lấy hai thanh tre, nứa cọ vào nhau, lúc đầu ta có cảm giác về âm thanh nhưng nghe một hồi thì ta cảm thấy gai người (cảm giác cơ thể).
- Sự tác động qua lại giữa các cảm giác diễn ra đồng thời hay nối tiếp trên cơ sở những cảm giác đồng loại hay khác loại sẽ tạo ra sự tương phản giữa các cảm giác. Hiện tượng dùng phấn trắng viết trên bảng đen. Cảm giác tuy là quá trình phản ánh thấp nhất nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Do vậy mà con người cần rèn luyện cho cảm giác thêm tinh, thêm thính, phải giữ gìn các cơ quan phân tích làm cơ sở để phát triển tính nhạy cảm của cảm giác.
Vì cảm giác là cơ sở đầu tiên của mọi sự hiểu biết của con người nên cần phải giáo dục cho trẻ biết cách bảo vệ giác quan của mình và rèn luyện để không ngừng phát triển năng lực cảm giác. Có thể coi cảm giác như là một quá trình, một hành động hoặc một hoạt động nhận thức. ❖ Tri giác - Khái niệm Tri giác là một quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật và hiện tượng trong thực tại khách quan khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta. Được hình thành trên cơ sở các cảm giác, tri giác có những đặc điểm cơ bản như tính trọn vẹn, tính kết cấu, tính tích cực.
Tri giác có vai trò tích cực trong việc điều chỉnh hành động của con người. Có thể coi tri giác như một quá trình, một hành động hay một hoạt động nhận thức. - Các loại hình tri giác Nếu căn cứ vào thuộc tính của đối tượng tri giác, chúng ta thấy có loại các hình tri giác không gian, tri giác thời gian và tri giác chuyển động. Nếu căn cứ vào mức độ chỉ đạo của ý thức khi tri giác, ta có tri giác có chủ định – quan sát và tri giác không chủ định.
Ở người còn có loại hình tri giác con người bởi con người. - Các thuộc tính cơ bản của tri giác + Tính đối tượng của tri giác Hình ảnh trực quan mà tri giác đem lại bao giờ cũng thuộc về một sự vật, hiện 10 tượng nhất định của thế giới bên ngoài, đó chính là đối tượng của tri giác. Tính đối tượng của tri giác nói lên sự phản ánh hiện thực khách quan chân thực của tri giác vì nó hình thành do tác động của sự vật hiện tượng xung quanh vào giác quan của con người trong hoạt động do những nhiệm vụ của thực tiễn.