mở đầu từ xâm lược của các triểu đại phong kiến phương Bắc. Có thể lấy mốc mb đầu từ năm Quý Ty (207 trước công nguyên) bằng sự kiện Triệu Đà đánh chiếm nước năm Quý Ty (2Ô7 trước công nguyên) bằng sự kiện Triệu Đã đánh chiểm nước ta dưới thời Ân Dương Vương. ta dưới thời An Dương Vương. Trong kho tàng văn bản bằng chữ Hán của nước ta có một khối lượng 46 Trong kho tàng văn bản bằng chữ Hán của nước ta có một khối thong đề sộ, phong phú trên nhiều lĩnh vực: Toán học, kiến trúc, văn học, sử học, địa lý, sộ, phong phú trên nhiều lĩnh vực: Toán học, kiến trúc, văn học, sử họ , dia ly, tôn giáo, triết học, y hoc, chính trị, hành chính.với rất nhiều thê loại: văn, thơ, tôn giáo, triết học, y học, chính trị, hành chính.với rất nhiều thé loại: Ÿăn, thơ, phú, ký, hịch, cáo, sắc, chiếu, biểu, tấu sớ, văn bia, thần phù, gia phả, Tộc phả, phú, ký, hịch, cáo, sắc, chiếu, biểu, tấn sớ, văn bia, thần phù, gia pha, liộc pha, chúc thư, hương ước, tộc ước, luật.
chúc thư, hương ước, tộc ước, luật. Đết với các loại văn bản như văn, ký, thơ chúng ta đễ hiểu vì ngày nay Đối với các loại văn bản như văn, ký, thơ chúng ta đễ hiểu vì ị khá quen thuộc; nhưng có những loại văn bản ngày nay không còn dùng hoặc khá quen thuộc; nhưng có những loại văn bản ngày nay không còn aif hình thức văn bản đó đã đổi tên gọi theo đanh từ mới, Cần nhấn mạnh rằng cha hình thức văn bản đó đã đổi tên gọi theo danh từ mới. Cần nhấn manh ang cha ông ta trước đây dùng chữ Hán biên soạn văn bản rất coi trọng nguyên tắc. Các ông ta trước đây dùng chữ Hán biên soạn văn bản rất coi trọng nguyên ắc, Các loại văn bản được quy định rất chặt chế và phạt tội rất nặng đối với những người loại văn bản được quy định rất chặt chế và phạt tội rất nặng đối với những người vi phạm cáo quy định về làm văn bản, ví đụ , sai niêm luật, sai thể thức, viết vi phạm các quy dinh về làm văn ban, vi du , sai niém luật, sai thé ức, viết chữ, đùng từ phạm húy (tên kiềng) WV.
chữ, dùng từ phạm húy (tên kiỀng) v. ị - Céo là văn bản tuyên bố chủ trương, kết quả công việc một cách rộng rãi - Cáo là văn bản tuyên bể chủ trương, kết quả công việc một cách rộng rãi cho mọi người cùng biết. Ví đụ, Bình ngô đại cáo do Nguyễn Trãi thay vua Lê cho mọi người cùng biết, Ví dụ, Bình ngô đại cáo do Nguyễn Trãi tha vua Lê Lợi làm sau khi đánh giặc Minh (thế kỷ XV), Lợi làm sau khi đánh giặc Minh (thé ky XV). - Hịch: là văn bản của vua hoặc tướng lĩnh triệu tập quân sĩ, kêu gọi nhân - Hịch: là văn bản của vua hoặc tướng lĩnh triệu tập quân si, kêu Bel nhân dan, ké t6i ké thd.
Vi du: Hich tướng sĩ của Trần Hung Bao. dân, kế tội kẻ thù.Ví dụ: Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo. - Biểu: là văn bán của quan hay dân dâng lên vua với mục đích trình bày - Biểu: là văn bản của quan hay dân đâng lên vua với tmục đích ph bày một nguyện vọng hay đề †ạ ơn VUA, một nguyện vọng hay dé tạ ơn vua, 10 10 SE. iì i ~ Tau: 1a văn bản dâng lên vua trình bày, báo cáo để vua biết một sự việc.
~ Tau: 1a văn ban dâng lên vua trình bày, báo cáo để vua biết một sự việc. Poot Sớ: là văn bản chép lời tâm nguyện của mình dâng lên vua hay than - Sở: là văn 4 thép lời tâm nguyện của mình dâng lên vua hay thần nh nơi thờ tự để cầu xin một việc gì đó. Ví dụ , Thất trăm sở của Chu Văn An thánh nơi thờ tự để cầu xin một việc gì đó. Ví dụ , That tram sé cha Chu Van An i.
a đẳng lên nhà vua Trân Dụ Tông xin chém bảy tên quyển thần tha hóa để cứu dâng lên nhà vua Trần Dụ Tông xin chém bảy tên quyền thần tha hóa để cứu nước, yên dân. Nhà vua không nghe, bất đắc chí ông cáo quan về ở Ấn trên núi nước, yên dân. Nhà vua không nghe, bất đắc chí ông cáo quan về ở ấn trên núi Chỉ Linh. - Ký: là văn bán ghỉ chép, ký sự lâ văn bản ghỉ chép lại những sự việc đã trông thấy, Ví dụ : Thượng kinh ký của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác ghỉ chép lại những sự việc đã xây ra mà ông trong thấy nhân chuyển lên kinh chữa bệnh cho Chúa Trịnh.
- Sắc: là văn bản của nhà vua bạn thưởng, phong tặng cho người cổ công đức lớn hoặc thần thánh linh thiêng phù hộ đất nước, yên dân. Ngoài ra Sắc còn iin bn bản bùa thiêng có đâu riêng ở các đền thờ thần thánh, dan thường xin dem là văn bản bùa thiêng có dầu riêng ở các đền thờ thần thánh, đân thường xin đem về nhà, dánở cửa trong nhà đề trừ ma quy. về nhà, đánở cửa trong nha để trừ ma quỹ. - Sắc chỉ: văn bản ghi lời vua truyền.
- Sắc chỉ: vin ban ghi lời vua truyền. - Sắc lệnh: Văn bản hi lệnh của vua truyền. - Sắc lệnh: Văn bản ghí lệnh của vua truyền. Liêm Chiếu, chiếu chỉ: là văn bản của vua ban bế cho toàn dân biết ý vua đã - Chiếu, chiếu chi: là văn bản của vua ban bế cho toàn đân biết ý vua đã qiyết định để mà làm cho đúng.
quyết định để mà làm cho đúng. «Dy: van ban ghi loi khuyén ran day bao cla người trên truyén day ké - Dụ: văn bản ghi lời khuyên tăn dạy bảo của người trên truyền dạy kẻ didi. - Văn bia: 14 văn bản khắc trên một tấm đá trang trọng, thường trang trí - Văn bỉa: là văn bản khắc trên một tắm đá trang trọng, thường irang trí hoa văn xung quanh. Văn bia thường chép những lên người hay các cầu chuyện, hoa văn xung quanh.
Văn bỉa thường chép những tên người hay các cầu chuyện, sy việc, bài văn hay thơ để xưng tụng tưởng niệm. Ví dụ , Bia Vĩnh Lãng tưởng sự việc, bài văn hay thơ để xưng tụng tưởng niệm. Ví dụ, Bia Vĩnh Lãng tưởng niém vúa Lê Lợi và ca ngợi cuộc kháng chiến chống giặc Minh bảo vệ nên độc niệm vúa Lê Lợi và ca ngợi cuộc kháng chiến chống giặc Minh bảo vệ nền độc 5h ' của đất nước ta, đặt ở Lam Kinh (Thanh Hóa). Bìa tiến sĩ đặt trong Quốc Tử lập của đất nước ta, đặt ở Lam Kinh (Thanh Hóa).
Bia tiễn sĩ đặt trong Quốc Tử ám (Hà Nội). Bia đặt ở các đình, chùa. Bia đặt ở các đỉnh, chùa. _ „Thần pha: van bản ghỉ chép về sự tích các thần.
- Thần phả: văn bản ghỉ chép về sự tích các thần. - Thần sắc: Sắc của nhà vua phong hiệu cho các vị thần thờ ở đền, miễu. - Thần sắc: Sắc của nhà vua phong hiệu cho các vị thân thờ ở đền, miéu. - Tộc pha, gia phả (cũng gọi là gia phổ hay tộc phổ): là văn bản ghỉ chép - Tộc phả, gia phá (cũng gọi là gia phổ hay tộc phổ); là văn bản ghỉ chép thé thik va sự tích một dòng họ.
thể thứ và sự tích một đông họ. : il il - Chúc thư: văn bán ghỉ lời đặn để thị hành sau khi chết. Ví dụ , Chúc thư - Chúc thư: văn bản ghỉ lời dặn để thi hành sau khi chết. Ví dụ, C núc thư chia tài sân; cũng gọi là di chúc; đi chúc của Chủ tịch H6é Chi Minh.
chia tai sản; cũng gọi là đi chúc: đi chúc của Chủ tịch Hề Chí Minh. ị - Hương ước: là văn bản ghỉ những điều quy ước mà mọi người trong một - Hương ước: là văn bản ghỉ những điều quy ước mà mọi người tử mg một “làng phải tuân theo và thực hiện. "làng phải tuần theo và thực hiện. ~ Tộc ước: là văn bản ghỉ chếp những điều quy ước mà mọi người trong - Tộc ước: là văn bản ghí chép những điều quy ước mà mọi ngự i trong tột làng phải tuân theo và thực hiện.
mội làng phái tuân theo và thực hiện. - Khế ước: là văn bản làm bằng chứng cho việc hai bên thỏa thugn mua, - Khế ước: là văn bán làm bằng chứng cho việc hai bên thỏa thuận mua, bán, Ví dụ, hai bên lâm khế ước về việc mua bán nhà đất. Ví dụ , hai bên làm khế ước về việc mua bán nhà đất. Ì Trong lịch sử văn bản Việt Nam, có nhiều bộ luật được biên soạn bằng Trong lịch sử văn bản Việt Nam, có nhiều bộ luật được biên soïn bằng chữ Hán, Năm 1042 Vua Lý Thải Tông đã sai Trung thư sánh sửa chữa lại các chữ Hán.
Năm 1042 Vua Luý Thái Tông đã sai Trung [hư sánh sửa chữa lại các điều luật cũ, định thêm các điều khoản mới, chia môn loại, lập thành bộ hình điều luật cũ, định thêm các điều khoản mới, chia môn loại, lập thành bộ hình Thư. Đây có thể là văn bản luật đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt Nam. Đây có thể là văn bản luật đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt Nam. Đáng tiếê nguyên bản đây đủ của bộ luật này đến nay không còn được lưu giữ.
Đáng tiếề nguyên bản đầy đủ của bệ luật này đến nay không còn được lợi giữ. Năm 1230 vua Trần Thái Tông sai các triều thần soạn một văn bản luật Năm 1230 vua Trần Thái Tông sai các triều thần soạn một vin ban luật gọi là “Omốc Triểu hình luật? trên cơ sở nghiên cứu bệ “Hình thu” thời Lý. Bộ gọi là “Quốc Triều hình luật” trên cơ sở nghiên cứu bộ “Hình thư” thời|Lý. Bộ “Quốc Triều hình luật? đến nay cũng không lưu giữ được văn bản nào.
“Quốc Triều hình luật? đến nay cũng không lưu giữ được văn bản nào. Mšm 1428, ngay sau khi lên ngôi, vua Lê Lợi đã sai các quan đại thần Năm 1428, ngay sau khi lên ngôi, vưa Lê Lợi đã sai các quan. ‘ai than xem xét lại một số luật, lệ xây dựng lại một bộ luật mới của triều đại mình. Bộ xem xét lại mệt số luật, lệ xây dựng lại một bộ luật mới của triều đại : luật Hồng Đức thời Lê đến nay còn văn bản in trong các sách “Lê Triệu hình luật” và “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” (Hình Luật chí).