Chương 1: Khái niệm về đầu mỏ 5 2 | 2 | Chuong 2: Nhién liệu 14 | 1H 2 T | 3 Ï Chương 3: Dỗu bôi tron 6 4 5 | 4| Chương 4: Mỡ bôi trơn 8 5 2 t | Tong cong 30 | 22 | 6 2 | LOI NOI DAU Một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, trang bị phương tiện kỹ thuật là chọ và sử dụng đúng loại nhiên liệu dầu mỡ theo quy định trong tai liệu kỹ thuật, nhằm nâng cao độ tin cậy và tuổi thọ của thiết bị, phát huy công suất thiết kế, hiệu quả làm việc và kinh tế của máy móc. Cuốn sách Nhiên liệu, dầu mỡ bôi trơn nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về các loại dầu mỡ đang được sử dụng phổ biến trong nước và thế giới, giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học để áp dụng vào thức tế khi làm việc. ‘Voi những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, ngành hóa dầu đã chế biến nhiều loại sản phẩm nhiên liệu dầu mỡ có tính ưu việt, đáp ứng mọi nhu cầu sử dụng. Trong khuôn khổ chương trình đảo tạo, cuốn sách chỉ giới thiệu một số loại nhiên liệu, dầu mỡ bôi trơn được dùng trong ngành máy thi công.
Sách dùng làm tài liệu học tập cho học sinh ngành sửa chữa, bảo trì máy thỉ công. Trong quá trình biên soạn mặc dù đã có nhiều cố gắng chọn lọc, cập nhật thong tin nhưng chắc chắn chưa đầy đủ và không tránh khỏi thiếu xót. Trong quá trình sử dụng rất mong bạn đọc góp ý để tài liệu được hoàn thiện. CHƯƠNG!: KHÁI NIEM VE DAU MO.
I, THANH PHAN VA TINH CHAT HOA LY 1/Thành phần Dầu mỏ là chất lỏng, nhờn, quánh có mùi thơm và thường có màu nâu, có trường hợp là màu sáng, nhẹ, cũng có trường hợp đặc quánh như keo, màu đen và chìm lơ lửng trong nước. Thành phần chính của dầu mỏ là các hợp chất cácbuahydrô. Tính chất Khối lượng riêng của dầu mỏ từ 0,78 đến 0,92 g/cm”. Thành phần hóa học.
của dầu mỏ rất phức tạp, hầu như trên thé gi không có mỏ dầu nào có thành phần hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên về mặt tổng quát trong dầu mỏ có hai nhóm hợp chất cơ bản là các hợp chất cácbuahyđrô và các hợp chất phi cácbuahydrô. CÁC TÍNH CHÁT CƠ BẢN CỦA CÁC LOẠI CÁCBUAHYĐRÔ CÓ TRONG DAU MO 1. Các hợp chất cácbuahyđro Loại này trong thành phần nguyên tử chỉ có 2 nguyên tố các bon và hyđrô.
Các hợp chất cácbuahyđro chiếm khoảng 90% ữ 98% trong dầu mỏ, ít nhất cũng đạt trên 50%. Các hợp chất các buahyđro là mục đích sử dụng chính của dầu mỏ, nó là thành phần của xăng, dầu hỏa, điêzen., dầu bôi trơn. Các hợp chất cácbuahyđro gồm 5 loại chính: ~ Loại n- parafin: (cácbuahyđro no mạch thẳng): (CnH;„,;) Loại này có đặc điểm dễ bị phân hủy nhiệt, là thành phần làm tăng chỉ số độ nhớt, chỉ số Xêtan , có nhiệt độ đông đặc cao, phân tử có khối lượng càng lớn thì cũng. có nhiệt độ đông đặc càng cao.
~ Loại Izôparaf : (cácbuahyđro no mạch nhánh ): (CnH›;„ : ) Loại này là thành phần làm tăng chỉ số ốctan và có chỉ số độ nhớt cao. ~ Loại Naphtan: (Cycloparafin): (CnH,„) Loại này có tính bền nhiệt cao, nhiệt độ đông đặc thấp và là thành phần làm tăng trị số xêtan. ~ Loại Aromatic: (Cacbuahyđro thơm): (CnH;,_;) Loại này có tính bền nhiệt cao, nhiệt độ đông đặc thấp. ~ Loại tổng hợp: “Trong dầu mỏ thường phổ biến loại hỗn hợp này Tóm lại: Tắt cả các loại cácbuahyđro nêu trên đều có mặt trong dầu mỏ và mỗi loại có các kích thước khác nhau có thể có số nguyên tử C từ Cs đến Cạ.
Các hợp chất phi cácbuahyđrô Loại này trong phân tử còn chứa các nguyên tố như ôxy, Nitơ, lưu huỳnh gọi là các hợp chất của ôxy, nitơ, lưu huỳnh. Ngoài ra còn có các hợp chất cơ kim, các chất nhựa và AS Phanten. Các hợp chất này chủ yếu nằm trong phần madút và cặn Guđrôn. CHƯƠNG II: NHIÊN LIỆU 1.
NHIÊN LIỆU XĂNG 1. Khái niệm Xăng là nhiên liệu lỏng, dễ bốc hơi và bốc cháy có mùi dễ nhận, không hòa tan trong nước. Trọng lượng riêng 0. Trong xăng chứa 86% các bon và 14% hyđrô ngoài ra còn một số tạp chất khác có hàm lượng không đáng kể như ôxy, nitơ, lưu huỳnh.
Hiện tượng kích nỗ Trong quá trình làm việc động cơ có thể xảy ra hiện tượng cháy không bình thường. Hiện tượng kích nỗ và cháy do sự nung nóng hay xảy ra nhất. Chúng làm giảm công suất động cơ và hiệu quả sử dụng nhiên liệu, phá huỷ các chỉ tiết dẫn tới tuổi thọ động cơ bị giảm. Cháy kích nỗ Đây là hiện tượng cháy không bình thường hay gặp nhất và gây hậu quả nghiêm trọng nhất.
Nó xuất hiện khi sử dụng xăng với trị số ốctan thấp hơn quy. định hoặc do chế độ làm việc của động cơ không đáp ứng yêu cầu khai thác sử dụng. Cháy kích nỗ diễn ra như sau: Giai đoạn 1 và đầu giai đoạn 2 diễn ra như cháy bình thường. Cuối giai đoạn 2, khi bề mặt của ngọn lửa đã cháy hết phần lớn hỗn hợp công tác, vận tốc cháy chậm lại.
Sau đó, đột ngột, phần hỗn hợp công tác chưa cháy bắt đầu cháy rất nhanh với tốc độ rất lớn (2000m/s). Nhiệt độ và áp suất tăng đột ngột, cục bộ. Sóng xung kích đập vào buồng đốt gây ra tiếng gõ kim loại mạnh. Nhiệt độ nắp máy và thân máy tăng lên, công suất động cơ giảm.
Nhiệt độ khí xả giảm, trong khi xả chứa nhiều thành phần chưa cháy triệt để có màu đen. Bản chất và cơ chế của hiện tượng cháy kích nỗ được nhà bác học Ba-khơ. giải thích theo thuyết peroxit. Theo thuyết này các hyđrôcacbon khi ở điều kiện nhiệt độ và áp suất cao sẽ bị ô xy hoátạo ra hợp chất peroxit (-O-O-) dạng alkylperoxit (ROOR).
Day là những hợp chất rất kém bên, dễ bị phân huỷ, tạo ra nhiều gốc tự do có hoạt tính hoá học cao, tỏa ra nhiều năng lượng. Do nhiệt độ và áp suất trong buồng đốt cao, thời gian có mặt trong buồng đốt lâu nên những phần nhiên liệu còn lại ở cuối giai đoạn 2 sẽ tích tụ nhiều hợp chất peroxit. Nếu nồng độ, peroxit tích tụ chưa đạt tới giá trị tới hạn thì quá trình cháy sẽ diễn ra bình thường. Nếu nồng độ peroxit tích tụ trong phần nhiên liệu chưa cháy tại một vị trí nào đó vượt quá giá trị tới hạn sẽ dẫn tới quá trình phân huỷ peroxit mãnh liệt, toả nhiều.
nhiệt, thúc đẩy phản ứng ôxy hoá đây chuyền làm xuất hiện ngọ lửa. Do thành phần hỗn hợp công tác quanh điểm A được chuẩn bị kỹ, có các biến đổi trước khi cháy tương tự nhau nên khi có mỗi lửa, bắt cháy và cháy rất nhanh, tạo ra song xung kích. Sóng xung kích này gặp sóng xung kích của bỀ mặt ngọn lửa chính (từ bugi) hoặc cộng hưởng với sóng xung kích phản hồi từ thành buồng đốt kích thích làm cho toàn bộ phần nhiên liệu chưa cháy sẽ cháy gần như tức thời. Cháy do sự nung nóng.
Trong thời gian hoạt động của động cơ, có một số bguyên nhân dẫn đến nhiệt độ trong xi lanh lên cao, một số bề mặt trở nên nóng sáng trở thành mỗi lửa cho hỗn hợp công tác bắt cháy và cháy. Hiện tượng cháy này xảy ra tuỳ tiện, không, phụ thuộc vào bugi đánh lửa nên phá vỡ hoạt động bình thường của động cơ, tổn hao nhiên liệu, giảm công suất. ở đây, người ta phân ra hai hiện tượng cháy: Hiện tượng cháy nhờ các bề mặt nóng sáng như các hạt muối bị làm nóng. trở thành mỗi lửa.
Hiện tượng cháy này có thể xảy ra khi đã ngắt hệ thống điện của động cơ. Cháy do sự nung nóng nếu không được khắc phục kịp thời sẽ dẫn tới cháy kích nỗ, tác hại sẽ lớn hơn nhiễu. Trị số Ốc tan 'Khả năng nhiên liệu chống lại sự xuất hiện kích nỗ hay gọi là độ chống kích. nỗ được đánh giá bằng tri s6 4 Trị số ốc tan của nhiên liệu là độ chứa (theo thể tích) lượng izô ốc tan trong một hỗn hợp nhân tạo gồm izô ốc tan và ghép tan theo độ chống kích nỗ tương đương với nhiên liệu đem thử.
Trị số ốc tan là một giả định, nó được ghi trong tắt cả các nhãn hiệu xăng. Trị số ốc tan đặc trưng cho khả năng chống kích nỗ của nhiên liệu động cơ. Đối với độgn cơ 4 kỳ ở cuối gia đoạn nén, hỗn hợp (Nhiên liệu + không khí) trong. x¡ lanh sẽ được bugi tia lửa để đốt cháy.
Quá trình cháy mặc dù xảy ra rất nhanh (bình thường từ 15 đến 40 m/s), nhưng không đồng thời trong toàn bộ xi lanh mà cháy lan truyền theo từng lớp, phân chia không gian của xi lanh thành hai phần: phía trong ngọn lửa bao gồm các sản phẩm đã cháy và phía ngoài ngọn lửa bao. gồm các loại cacbua hydrô (C-H) đang bị ôxy hoá sâu sắc ở nhiệt độ và áp suất cao, tạo ra các loại hợp chất trung gian không bền, gây ra các phản ứng chuỗi làm cho các C-H tự ôxy hoá sâu sắc thêm và tưh bốc cháy khi mặt lửa chưa lan truyền tới. Khi tốc độ lan truyền quá lớn (hơn 40 m⁄s), thì quá trình cháy xảy ra gần như đồng thời ngay sau khi tỉa lửa điện của bugi phát cháy, hiện tượng đó được gọi là cháy kích nổ. Hiện tượng cháy kích nổ sẽ gây nên các sóng xung kích va đập.
mạnh vào thành xi lanh làm xuất hiện tiếng gõ kim loại khác thường, làm tổn hao công suất động cơ, thiết bị sớm bị hư hỏng. 'VỀ nguyên tắc, trị số Ốctan cảng cao càng tốt, tuy nhiên phải phủ hợp với từng loại động cơ. Xăng có trị số ốctan từ 80 đến 83 (tính theo phương pháp môtơ - MON) thường được sử dụng cho các loại xe có tỷ số nén nhỏ hơn 7,5. Xăng có trị số Ốctan từ 90 đến 95 (tính theo phương pháp nghiên cứu - RON) thường được sử dụng cho các loại xe có tỷ số nén từ 7,5 đến 9,5.
Xăng có trị số ốctan lớn hơn 95 (tính theo phương pháp nghiên cứu - RON) là các loại xăng đặc biệt, cao cấp, thường được sử dụng cho các loại xe có tỷ số nén cao trên 9,5 như các loại xe đua, xe ôtô cao cấp, xe đặc chủng. Như vậy, quá trình cháy trong động cơ bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thiết kế chế tạo động cơ và chất lượng nhiên liệu (xăng).