CHƯƠNG X BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHÁI NIỆM VÀ CẤU TRÚC TO CHỨC CUA BỘ MAY 342 NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1. Khái niệm bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa 342 Việt Nam 1. Cấu trúc tổ chức của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ 347 nghĩa Việt Nam 2. BỘ MAY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUA CÁC GIAIĐOẠN 353 HIẾN PHÁP 2.
Bộ máy nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 1946 353 2. Bộ máy nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 1959 356 2. Bộ máy nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 1980 358 2. Bộ máy nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 1992 361 (sửa đôi, bố sung năm 2001) 2.
Bộ máy nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 2013 364 CÁC NGUYEN TAC HIẾN ĐỊNH VE TÔ CHỨC VA HOAT 367 ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 3. Nguyên tắc chủ quyền nhân dân 368 3. Nguyên tắc quyên lực thống nhất 373 3. Nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa 377 3.
Nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền 383 con người, quyền công dân 3. Nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước 386 3. Nguyên tắc tập trung dan chủ 390 PGS. Tô Văn Hòa 341 GIÁO TRÌNH LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM 1.
KHÁI NIỆM VÀ CẤU TRÚC TÔ CHỨC CUA BỘ MAY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1. Khái niệm bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Dé hiểu khái niệm “bộ máy nhà nước” nói chung và “bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” nói riêng, trước tiên cần hiểu khái niệm “Nhà nước”. Khái niệm “Nhà nước” được nghiên cứu bởi khá nhiều ngành khoa học như khoa học luật hiến pháp, chính trị học, xã hội học, triết học. Mỗi ngành khoa học lại có cách tiếp cận khác nhau và đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm này.
Dưới góc độ khoa học luật hiến pháp, có thé hiểu Nha nước là một tập hợp mang tính chất chính trị (Political association) của người dan sinh song trên một phạm vi lãnh thô nhất định nhằm mục đích duy trì trật tự trong xã hội băng các biện pháp và bộ máy cưỡng chế hợp pháp. Day là nghĩa rộng và trừu tượng của khai niệm “Nhà nước”. Khi sinh sống trong xã hội, con người có nhiều hình thức tập hợp với nhau thành các thực thé (associations) dé thực hiện một số hoạt động nào đó có mục đích nhất định mà tất cả các thành viên đều hướng tới, ví dụ nhà nước, nhà thờ, hội thánh, công ty, câu lạc bộ. Trong các hình thức này, Nhà nước là đặc biệt nhất bởi nó được hình thành đề thực hiện quyền lực chính trị, tức là quyền lực cưỡng chế chung hợp pháp trên phạm vi toàn lãnh thé nhằm duy trì trật tự nhất định.
Nhà nước hiện thực hoá sứ mệnh này thông qua việc độc quyền ban hành và thực thi pháp luật. Theo Hans Kelsen, một học giả pháp lí người Mỹ gốc Áo nổi tiếng giữa thế kỉ XX: “. Nhà nước là một xã hội “chính trị” hoặc xã hội được tổ chức một cách chính tri (politically organized). Theo nghĩa nay, trong nhà nước tồn tại một trật tự được duy trì bởi việc sử dụng vũ lực và nhà nước độc quyền sử dụng vũ lực đó thông qua việc ban hành và thực thi pháp luật.
Sở dĩ nhà nước là một xã hội được tô 342 PGS. Tô Văn Hòa CHUONG X - BO MAY NHÀ NUOC CỘNG HOA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM chức theo cách thức chính trị là bởi vì đó là một cộng đồng được tập hợp bởi một trật tự có tính bắt buộc chung, trật tự đó chính là pháp luật”. Ở góc độ phân tích giải phẫu, Nhà nước theo nghĩa rộng trên đây được hiểu như một sự tập hợp của ba yếu tố cơ bản: bộ máy thi hành quyền lực chính trị, lãnh thô va dân cư. Tridc tién, nhà nước là tập hợp của các thiết chế (cơ quan) nắm giữ công cụ cưỡng chế và bạo lực một cách chính đáng, đây chính là sự hiện diện của quyền lực nhà nước.
Các thiết chế nhà nước này có đội ngũ nhân sự riêng và tồn tại thường trực trong khoảng thời gian không giới hạn. Thứ hai, những thiết chế nhà nước kiểm soát một phạm vi lãnh thổ địa lí nhất định, thường được đề cập tới như một xã hội. Theo nghĩa nay, nhà nước chăm lo các công việc đối nội trong phạm vi lãnh thé của mình cũng như các công việc đối ngoại trong mỗi quan hệ với các nước khác. Thi ba, nhà nước độc quyền ban hành các quy định mang giá trị bắt buộc, tức là pháp luật, trong phạm vi lãnh thổ của mình và đối với phạm vi dân cư sinh sống trên phạm vi lãnh thổ do.” Quan điểm của các học giả Xô-viết trước đây, mặc dù nhấn mạnh tính giai cấp của nhà nước, song cũng gián tiếp công nhận khái niệm Nhà nước bao gồm ba thành tô nêu trên.
Với khái niệm “Nhà nước” được hiểu như trên đây, thuật ngữ “bộ máy nhà nước” đề cập tới thành tố đầu tiên của Nhà nước. Nhìn ở góc độ trừu tượng thì yếu tố này chính là thứ quyền lực ! Hans Kelsen, General Theory of Law and State (Li luận chung về pháp luật và nhà nước), dịch bởi Anders Wedberg, Nxb. Đại học Havard, Massachusetts, 1946, tr. 2 Joel Krieger, The Oxford Companion to Politics of the world (Cam nang chuyên dé cha Dai hoc Oxford vé chinh tri thé giới), Oxford University Press, 2001 tr.
802; Hans Kelsen, General Theory of Law and State (Li luận chung về pháp luật và nhà nước), dịch bởi Anders Wedberg, Nxb. Dai học Havard, Massachusetts, 1946, tr. Zhidkov, Fundamentals of the Socialist Theory of State and Law (Những vấn dé cơ bản của Lý luận XHCN về nhà nước và pháp luật), Nxb. Tiến bộ, Moscow, 1979, tr.
Tô Văn Hòa 343 GIÁO TRÌNH LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM chính trị hiện diện trong Nhà nước; còn nhìn ở góc độ cụ thể thì đó chính là sự hiện diện của một hệ thống tô chức của con người trực tiếp thực hiện thứ quyền lực chính tri đó trên phạm vi lãnh thổ của Nhà nước. Trong suốt chương trình của môn học Luật hiến pháp, thuật ngữ “bộ máy nhà nước” hay “bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” thường sử dụng nhiều hơn ở góc độ cụ thể. Trong ba thành tố của Nhà nước theo nghĩa rộng phân tích trên đây thì bộ máy nhà nước cũng là thành tố quan trọng và nổi bật nhất. Không có bộ máy nhà nước thì không có Nhà nước.
Chính vi vậy, bộ máy nhà nước cũng thường được hiểu như nghia hẹp của Nhà nước và thuật ngữ “Nhà nước” cũng có thể được dùng để chỉ bộ máy nhà nước. Như vậy, nếu quyền lực nhà nước là thứ quyền lực duy nhất có giá trị bắt buộc trên toàn bộ lãnh thô và đối với mọi chủ thê trong phạm vi lãnh thổ đó thì bộ máy nhà nước là cấu trúc tổ chức hiện thực hoá, trực tiếp năm giữ và thực thi thứ quyền lực đó. Cấu trúc này là một hệ thống bao gồm các chủ thể độc lập tương đối với nhau bởi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, song cùng tạo thành một chỉnh thé thống nhất để thực hiện quyền lực nhà nước đáp ứng được các tiêu chuẩn của một nhà nước hiện đại như dân chủ, pháp quyền, bảo đảm nhân quyền và hiệu quả. Các chủ thé này được gọi là các cơ quan nhà nước.
Có thê nói, néu bộ máy nhà nước là yếu tố cau thành Nha nước thì Cơ quan nhà nước là yếu tô cầu thành bộ máy nhà nước. Các học giả Xô-viết trước đây thường định nghĩa “tổng thể các cơ quan nhà nước với những nhiệm vụ, quyền hạn riêng của nó tham gia vào quá trình thực hiện các chức năng, quyền lực nhà nước được gọi là bộ máy nhà nước. Mỗi cơ quan nhà nước đều có phạm vi quyền hạn, chức năng và nhiệm vụ riêng mà theo đó nó tham gia vào quá trình thực hiện các công việc của nhà nước”.! Mặc dù định nghĩa này phản !V, Chirkin, Yu. Zhidkov, Fundamentals of the Socialist Theory of State and Law (Những van dé co ban cua Ly luận XHCN ve nhà nước và pháp ludt), Nxb.
Tiên bộ, Moscow, 1979, tr. Tô Văn Hòa CHUONG X - BO MAY NHÀ NUOC CỘNG HOA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM anh bộ may nhà nước từ góc độ tô chức, song nó khá cụ thể, dễ hiểu và dễ liên hệ với từng bộ máy nhà nước cụ thé trong thuc tiễn. Vi dụ: Bộ máy nhà nước thời phong kiến thường có sự hiện diện của một nhà vua, bộ máy nhà nước hiện đại thường có sự hiện diện của các cơ quan dân cử như nghị viện v. Cách định nghĩa này cũng dễ phân biệt bộ máy nhà nước ở các quốc gia khác nhau, ví dụ bộ máy nhà nước Đức ở trung ương có Tổng thống, Nghị viện., bộ máy nhà nước Vương Quốc Anh ở trung ương có Nhà vua, Nghị viện, Chính phủ.
Như vậy, bộ máy nhà nước giống như một cỗ máy còn các cơ quan nha nước là các bánh xe ráp nối với nhau tạo thành cỗ máy đó. Với khái niệm chung về bộ máy nhà nước như trên, có thể hiểu “bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” là cau trúc tổ chức trực tiếp nắm giữ và thực thi quyền lực nhà nước, tức là bộ máy nhà nước của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Ở góc độ luật hiến pháp, khi nói tới “Cơ quan nhà nước” là nói tới yếu tố cấu thành chính của nó như: chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tô chức - nhân sự. Các thuật ngữ này cũng sẽ được sử dụng thường xuyên và xuyên suốt quá trình khảo cứu các cơ quan nhà nước cụ thể trong chương trình môn học Luật hiến pháp.
“Chức năng” của cơ quan nhà nước là lĩnh vực hoặc những lĩnh vực hoạt động chính của cơ quan đó, ví dụ lĩnh vực - chức năng lập pháp, lĩnh vực - chức năng hành pháp, lĩnh vực - chức năng tư pháp. lĩnh vực - chức năng kiểm soát quyên lực, lĩnh vực - chức năng công tố, lĩnh vực - chức năng quản lí hành chính nhà nước. Chức năng của mỗi cơ quan nhà nước cũng có thể được hạn định trong một phạm vi lãnh thé mà cơ quan nhà nước đó có thâm quyên. Nhìn tổng thể, chức năng của mỗi cơ quan nhà nước là một phần chức năng chung của bộ máy nhà nước.