Chương 1,2) và Phần III Lịch sử 2 TS. Võ Thị Thu Hà Khoa Du lịch/ Lời nói đầu, Phần I Lịch sử (Chương 3) và Phần III 3 PHẦN 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÔN GIÁO A. TÓM TẮT KIẾN THỨC Kiến thức phần I giúp sinh viên nhận diện được đối tượng học tập của môn học thông qua việc phân tích khái niệm tôn giáo, bản chất, nguồn gốc, tính chất, chức năng của tôn giáo. Khái quát lịch sử phát triển của tôn giáo, các yếu tố cấu thành nên một tôn giáo và đánh giá mặt tích cực, hạn chế của tôn giáo đối với đời sống xã hội con người.
KHÁI NIỆM TÔN GIÁO Thuật ngữ tôn giáo (religion) bắt nguồn từ phương Tây. Từ thời Roma cổ đại, trước khi đạo Kitô xuất hiện, nhà triết học Ciceron (106 - 43 tr.CN) đã từng đưa ra thuật ngữ này. Theo ông, thuật ngữ religion có gốc tiếng Latinh Legere hay Relegere đều có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Trong thời kỳ cổ đại, do nhận thức con người còn sơ khai, con người luôn cảm thấy “nhỏ bé”, sợ hãi trước các hiện tượng tự nhiên như sấm, sét, giông bão, núi lửa… nên đã thần thánh hóa và sùng bái các hiện tượng này.
Con người khẩn cầu sự che chở, phù hộ của các vị thần đó để họ tránh được sự rủi ro và tai họa. Sau khi đạo Kitô ra đời (thiên niên kỷ I SCN), từ Legere đã nghiêng sang từ Ligere và Relegere đã trở thành Religare (hay Religion) với nghĩa chỉ sự ràng buộc, tái ràng buộc giữa Chúa với con người và con người với Chúa. Như vậy, theo cách hiểu này, thuật ngữ religion là để chỉ riêng đạo Kitô. Thực tế, trong buổi đầu thuật ngữ tôn giáo (religion) hiểu theo nghĩa religare trong ngôn ngữ Pháp cổ chỉ có nghĩa đen là tu viện, sau đó mới chỉ toàn thể hành vi có tính nghi thức, liên quan đến ý niệm thiêng, mối quan hệ của con người với Chúa và hệ thống giáo lý.
Những tôn giáo nào khác với đạo Kitô thời bấy giờ đều bị coi là tà giáo hay dị đoan. Đến thế kỷ XVI với sự xuất hiện đạo Tin lành được tách ra từ đạo Công giáo thì religion dùng để chỉ hai tôn giáo (đạo Kitô và đạo Tin lành) cùng thờ một Chúa. Từ thế kỷ XVIII, cùng với sự bành trướng của CNTB ra ngoài châu Âu thì religion để chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau. Khi thuật ngữ này xuất hiện ở Nhật Bản và Trung Quốc thì được dịch là tông giáo.
Khi vào Việt Nam, thuật ngữ này được gọi là tôn giáo (vì kỵ tên húy của vua Thiệu Trị). 4 Như vậy, thuật ngữ religion được người châu Âu sử dụng đầu tiên, nhằm chỉ một tôn giáo (đạo Kitô) sau đó lan truyền ra toàn cầu và dùng để chỉ những tôn giáo. Ở Việt Nam, tôn giáo theo thuật ngữ thuần Việt được hiểu là thờ cúng. Thờ có ý bao hàm một hành động để biểu hiện sự sùng kính một đấng siêu linh: thần thánh, tổ tiên, đồng thời cũng có nghĩa là cách ứng xử với bề trên cho phải đạo như thờ cha mẹ, một người mình mang ơn, hay mình lấy làm biểu tượng để cố noi theo 1.
Tất nhiên việc sùng kính này còn bao hàm cả nghĩa: nếu làm điều gì sai trái sẽ sợ bị quở trách. Cúng có nghĩa là dâng lễ vật cho các đấng siêu linh, cho người đã khuất với lòng biết ơn, cầu mong cho sự phù hộ, ban phát những điều tốt đẹp của đấng siêu linh đối với bản thân. Cúng còn có nghĩa là đóng góp cho việc công ích, cho việc từ thiện. Thuật ngữ religion được dịch ra tiếng Việt là tôn giáo với nghĩa “Giáo” là giáo dục, là dạy bảo hướng dẫn con người ta làm theo điều đúng không những ở đời này mà còn cả đời sau.
“Tôn” là đưa lên, kích lên một bậc cao của sự giáo dục (mà sự giáo dục ở đây không phải của người trần như bậc vĩ nhân, bố mẹ, thầy cô. mà là của các vị thần thánh với niềm tin tuyệt đối vào lực lượng này). Do đó, khi ghép một bổ ngữ là từ giáo sau tên một tôn giáo cụ thể như Kitô giáo, Phật giáo, Nho giáo. có nghĩa là sự giáo hóa, dạy bảo của các vị thần thánh thông qua giáo lý của tôn giáo và cả lời dạy của các “thầy giáo” là những người có chức tước, phẩm hàm trong tôn giáo như Giáo hoàng, Giám mục, Linh mục …của Kitô giáo hay Sư ông, Sư bác…của Phật giáo.
Tuy nhiên cần lưu ý, ở một số tôn giáo dân tộc của Việt Nam như đạo Tổ tiên, đạo thờ Thành Hoàng, đạo thờ các vua Hùng hay các đạo mới (Cao Đài, Hòa Hảo) thì không ghép từ giáo sau các tôn giáo này. Theo nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn thì các đạo này “thờ các vị có công hư hư thực thực, thờ những người đã khuất theo hệ thống, là một hệ thống khó tách bạch, nối liền Nhà - Làng - Nước” 3. Có rất nhiều khái niệm và quan điểm khác nhau về tôn giáo. Trên thế giới, vào nửa đầu thế kỷ XIX, nhà triết gia cổ điển Đức - F.
Hegel đã từng đưa ra định nghĩa về tôn giáo. Theo ông: “Tôn giáo là lĩnh vực ý thức con người, giải đáp mọi điều bí ẩn của thế giới quan, gạt bỏ mọi mâu thuẫn thầm kín trong tư tưởng con người, xoa dịu 1 Đặng Nghiêm Vạn (2001), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 2 Đặng Nghiêm Vạn (2001), sđd, tr. 3 Đặng Nghiêm Vạn (2001), sđd, tr.
5 mọi nỗi đau, là lĩnh vực của chân lý vĩnh cửu, của sự tĩnh lặng vô bờ, của thế giới vô biên” và “Tôn giáo là lĩnh vực tận cùng và cao nhất của ý thức con người”. Sau này khi nghiên cứu quan điểm của F. Hegel, Marx đã kế thừa, phát triển một cách sáng tạo bằng những nhận định và đánh giá đúng đắn. Ông khẳng định: “…Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần.
Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” 4. Còn Engels cho rằng: “Tất cả tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào đầu óc con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” 5. Marx và Engels là những học giả có công trong việc đặt nền móng nghiên cứu tôn giáo trở thành bộ môn khoa học dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Những nhận định của các ông đã chỉ ra nguồn gốc và bản chất của tôn giáo.
Điều này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tôn giáo không chỉ là những biểu hiện bề ngoài của sự sùng bái và lòng tin của con người vào thượng đế, thần linh mà còn là sự phản ánh xã hội con người vào trong ý thức con người nhưng là “sự phản ánh hư ảo” - hoang đường. Sau Marx và Engels, nhiều học giả trong giới nghiên cứu tôn giáo trên thế giới và Việt Nam đã đưa những định nghĩa khác nhau về tôn giáo. Nhà nghiên cứu Nhiệm Kế Dũ cho rằng: “Tôn giáo là một hiện tượng xã hội chỉ xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định. Thời kỳ đầu của xã hội loài người không thể sản sinh ra tôn giáo được.
Từ lúc không có tôn giáo đến lúc sản sinh ra tôn giáo chính là bước tiến của xã hội loài người” 6. Barry cho rằng “Tôn giáo là những điều mà một người sống vì nó; có người sống vì rượu hoặc vì lợi nhuận, có người sống vì Jerusalem mới, và đó là tôn giáo của anh ta” 7. Ở Việt Nam, những nhà nghiên cứu chuyên sâu về tôn giáo như: Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Kiệm, Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Hồng Dương, Đỗ Quang Hưng…Trong 4 Các Mác và Ph.Angghen: Toàn tập (2002), tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.Angghen: Toàn tập (2002), tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 6 Dẫn theo Lại Bích Ngọc (2009), Nguồn gốc, vai trò, chức năng của tôn giáo trong lịch sử thế giới cổ - trung đại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.
7 Dẫn theo Lê Thanh Bình, Đỗ Thanh Hải (2012), Tôn giáo và quan hệ quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 6 một nghiên cứu, tác giả Đặng Nghiêm Vạn đã đưa ra định nghĩa khái quát về hiện tượng tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay hư ảo), nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế, cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội/ tôn giáo khác nhau” 8. Dưới góc độ khoa học, mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn nhận vấn đề tôn giáo theo hướng nghiên cứu của mình.
Mỗi khái niệm về tôn giáo đều chưa làm cho các nhà nghiên cứu hay chính những chức sắc, tín đồ tôn giáo vừa lòng. Bởi tôn giáo là một bộ phận thuộc về đời sống tinh thần nên có nhiều cách hiểu, cách lý giải khác nhau theo quan điểm chủ quan của mỗi người. Những ý kiến trên đây của các nhà kinh điển, các học giả trước và sau chủ nghĩa Marx cho thấy tôn giáo cần được nhìn nhận theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, tôn giáo là sự sùng bái của con người đối với thần linh hoặc mối quan hệ giữa con người với thần linh.
Còn theo nghĩa rộng, tôn giáo được hiểu là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người trong xã hội, tôn giáo tạo cho con người có niềm tin vào thế giới vô hình nơi hư vô, nhưng con người vẫn sống trong cuộc sống hữu hình nơi trần thế, đồng thời tôn giáo quy định những luật lệ, nghi thức mang tính “thiêng liêng” để con người thực hành và tuân theo.