Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam - Đại học Luật Hà Nội (Phần 1)

Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam phần 1, chủ biên Lê Minh Tâm, cung cấp kiến thức chuyên sâu về lịch sử pháp lý Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình

2021

270
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG I: QUA TRÌNH HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM - NHÀ NƯỚC VĂN LANG-ÂU LẠC

1.1. TIỀN ĐỀ VẬT CHẤT VÀ NHỮNG YẾU TỐ THÚC ĐẨY NHÀ NƯỚC RA ĐỜI

1.1.1. Quá trình phát triển của kinh tế và tình hình phân hoá xã hội

Tóm tắt

I. Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam

Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam là tài liệu quan trọng trong chương trình đào tạo luật tại Đại học Luật Hà Nội. Phần 1 của giáo trình tập trung vào quá trình hình thành nhà nước đầu tiên ở Việt Nam, cụ thể là Nhà nước Văn Lang-Âu Lạc. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về lịch sử pháp luật và nhà nước, từ thời kỳ sơ khai đến những bước phát triển ban đầu của hệ thống pháp luật Việt Nam.

1.1. Quá trình hình thành Nhà nước Văn Lang Âu Lạc

Giáo trình phân tích sâu về quá trình hình thành Nhà nước Văn Lang-Âu Lạc, dựa trên các nguồn tư liệu khảo cổ học, dân tộc học và truyền thuyết dân gian. Thời kỳ Hùng Vương được xem là thời kỳ khởi đầu của nhà nước Việt Nam, với sự phát triển của nền văn minh đồ đồng và đồ sắt. Các di tích khảo cổ như Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn đã chứng minh sự tồn tại của một nền văn hóa phát triển liên tục từ thời đồ đồng đến thời đồ sắt.

1.2. Tiền đề vật chất và yếu tố thúc đẩy sự ra đời của nhà nước

Giáo trình nhấn mạnh các tiền đề vật chất như sự phát triển kinh tế, phân hóa xã hội và nhu cầu quản lý xã hội đã thúc đẩy sự ra đời của nhà nước. Sự xuất hiện của sản phẩm thặng dư, sự phân hóa giàu nghèo và nhu cầu quản lý các công trình thủy lợi là những yếu tố quan trọng dẫn đến sự hình thành nhà nước sớm ở Việt Nam.

II. Lịch sử pháp luật Việt Nam thời kỳ đầu

Phần này của giáo trình tập trung vào lịch sử pháp luật Việt Nam từ thời kỳ Hùng Vương đến thời kỳ Bắc thuộc. Tài liệu phân tích các yếu tố pháp lý sơ khai, bao gồm các quy tắc xã hội, tập quán và sự hình thành các thiết chế quản lý xã hội.

2.1. Các quy tắc xã hội và tập quán thời kỳ Hùng Vương

Giáo trình chỉ ra rằng, trong thời kỳ Hùng Vương, các quy tắc xã hội chủ yếu dựa trên tập quán và truyền thống. Các quy tắc này được duy trì thông qua sự đồng thuận của cộng đồng và sự tôn trọng đối với các thủ lĩnh bộ lạc. Các truyền thuyết dân gian như Sơn Tinh-Thủy Tinh và Chử Đồng Tử-Tiên Dung phản ánh các quy tắc xã hội và tập quán thời kỳ này.

2.2. Sự hình thành các thiết chế quản lý xã hội

Giáo trình cũng phân tích sự hình thành các thiết chế quản lý xã hội như hệ thống lạc hầu, lạc tướng và bồ chính. Các thiết chế này đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý xã hội và duy trì trật tự. Sự phân hóa xã hội và nhu cầu quản lý các công trình thủy lợi đã thúc đẩy sự phát triển của các thiết chế này.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của giáo trình

Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam không chỉ là tài liệu học tập quan trọng mà còn có giá trị thực tiễn trong việc nghiên cứu và hiểu biết về lịch sử pháp luật Việt Nam. Tài liệu này cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu sâu hơn về sự phát triển của nhà nước và pháp luật Việt Nam.

3.1. Ứng dụng trong nghiên cứu lịch sử pháp luật

Giáo trình là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật. Nó cung cấp các dữ liệu khảo cổ học, dân tộc học và truyền thuyết dân gian để phân tích sự phát triển của nhà nước và pháp luật Việt Nam từ thời kỳ sơ khai.

3.2. Giá trị trong đào tạo luật

Giáo trình đóng vai trò quan trọng trong chương trình đào tạo luật tại Đại học Luật Hà Nội. Nó giúp sinh viên hiểu rõ về nguồn gốc và sự phát triển của nhà nước và pháp luật Việt Nam, từ đó có cái nhìn toàn diện về hệ thống pháp luật hiện đại.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của sự hình thành nhà nước đầu tiên ở nước ta. Quá trình chuyển hoá quyền lực xã hội thành quyền lực nhà nước Trong chế độ công xã nguyên thuỷ ở nước ta lúc đầu chưa có quyền lực nhà nước, mà chi có quyền lực xã hội do cộng đồng giao cho một người hay một nhóm người để tô chức và thực hiện chức năng quản lí xã hội trong cộng đồng. Các chức năng xã hội đó rất đa (2).Xem: Lê Quý Đôn, Van dai loại ngữ, tap I, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1962, tr.Xem: Trân Quôc Vượng, "Vé danh hiệu Hùng Vương", Hing Vương dung nước, tap III, Sdd, tr.

17 dạng như: phân công lao động va phân phối sản phẩm giữa các thành viên trong cộng đồng; phân xử những vụ xích mich, tranh chấp; tổ chức những lễ nghi tôn giáo; huy động sức người, sức của và tổ chức, chỉ đạo việc trị thuỷ-thuỷ lợi hoặc chống những cuộc chiến tranh với bên ngoài. Đặc trưng cơ ban của quyền lực xã hội là nó xuất phát từ cộng đồng, chịu sự kiểm soát của cộng đồng và vì lợi ích chung của cả cộng đồng. Tuy nhiên, chính yếu tố quyền lực được trao cho một cá nhân hay một nhóm người là mầm mống dẫn đến sự chuyền hoá va làm phát sinh quyền lực nhà nước. Angghen viết: "Những cơ quan đó, hic bấy giờ với tư cách là đại biểu cho những lợi ich chung của toàn nhóm, đã có đối với môỗi cộng dong riêng biệt một dia vị đặc biệt đôi khi đối lập với ngay cộng dong ay, rồi chang bao lâu sau đó có ngay một tính độc lập còn nhiều hơn nữa do việc kế thừa nhiệm vụ là tự nó thành tục lệ trong cải thé giới ma moi việc déu xay ra theo tự nhiên hoặc là do công việc hang ngày không thé nào bỏ được những cơ quan như thé khi mà những xung đột với những nhóm khác ngày càng tăng thêm.

với thời gian chức năng xã hội đã có thể dan dan vươn lên thành sự thống trị đối với xã hội. hé ở đâu gặp thời cơ thuận lợi, người day tớ ban dau lại biến thành người chủ. tùy theo hoàn cảnh, người chủ đó lại biến thành tên vua chuyên chế hay tên chúa tỉnh ở phương Đông". Từ đầu thời kì Hùng Vương trở đi, địa vị của những người được trao quyền lực như thủ lĩnh liên minh bộ lạc, tù trưởng bộ lạc, tộc trưởng.

được xác lập với những quyền lực ngày càng lớn để thực hiện các chức năng xã hội. Từ địa vị đó, những người này bên cạnh việc bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng đã từng bước chiếm được nhiều hơn của cải mà vốn trước đây là của cộng đồng, có bộ máy giúp việc và những người phục dịch cho cá nhân và gia đình. Quyền lực được họ sử dụng dé tiễn hành các công việc dưới danh nghĩa là thực hiện chức năng xã hội đã không phải chỉ nhằm mục đích bảo vệ (1).Ăngghen, Chéng Duy rinh, Sdd, tr. 18 cho những lợi ích chung của cả cộng đồng mà còn nhằm mục đích mang lại lợi ích cho cá nhân họ đồng thời để đề cao uy tín, địa vị và quyền hạn của mình.

Vì vậy, bên cạnh các biện pháp dân chủ von đặc trưng trong công xã nguyên thuỷ, các biện pháp cưỡng chế thê hiện quyền lực của cá nhân thủ lĩnh hay một nhóm nhỏ cũng được sử dụng ngày càng pho biến hơn. Trong xu hướng đó, quá trình chuyển hoá quyền lực diễn ra và quyền lực xã hội được trao nhằm dé thực hiện chức năng xã hội dần dần biến thành quyền lực mang tính quyền lực nhà nước. Người thực hiện chức năng xã hội biến thành quan chức, những quan chức hợp thành bộ máy nhà nước. Đối với họ, việc quản lí xã hội không còn là "nghề nghiệp dư" mà trở thành "nghề chuyên nghiệp".

Họ là những người tách ra khỏi xã hội và tựa hồ như đứng trên xã hội. Theo truyền thuyết dân gian và sử sách cô, đứng đầu nước Văn Lang là Hùng Vương. Nước Văn Lang được chia thành 15 bộ (vốn là 15 bộ lạc), đứng đầu mỗi bộ là lạc tướng (còn gọi là phụ đạo). Dưới đó là bồ chính đứng đầu công xã nông thôn.

Ngay các danh hiệu Hùng Vương, phụ đạo, bồ chính cũng đã phản ánh tiễn trình các quý tộc thị tộc chuyền hoá thành các quan chức nhà nước, chức năng xã hội được chuyên hoá thành quyền lực nhà nước. Có lẽ các chữ phụ đạo, bồ chính cũng là từ Hán dùng dé phiên âm từ Việt cổ: Trong tiếng Mường có từ "đạo", trong tiếng Giarai có từ "tạo" và trong trong tiếng Bana có từ "ba đao". đều có nghĩa là tù trưởng, thủ lĩnh, người đứng đầu một vùng: ° trong tiếng Tay và tiếng Thái có từ "pó chiêng”, trong ngôn ngữ của các dân tộc vùng Tây Nguyên có từ "p6 ta rinh" nghĩa là già lang.” Tóm lại, sự chuyển hoa quyén lực từ việc thực hiện chức nang xã hội thành quyền lực nhà nước và quý tộc thị tộc biến đổi thành quan chức nhà nước là hai yếu tố biểu hiện cụ thé của sự hình thành nhà (1).Xem: Hoàng Thị Châu,"Tìm hiểu từ "phụ đạo" trong truyền thuyết về Hùng Vuong", Tap chí nghiên cứu lịch sử, sô 102, thang 9/1967.Xem: Lich sử Việt Nam, Tập I, Sdd, tr. Quá trình chuyên hoá, biến đôi đó diễn ra một cách chậm chạp và lâu dài từ giai đoạn Phùng Nguyên qua các giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, được phát triển mạnh mẽ ở giai đoạn Đông Sơn.

Sự hình thành nhà nước ở cuối thời Hùng Vương Về sự hình thành của nhà nước ở cuối thời Hùng Vương hiện còn có những ý kiến giải thích khác nhau. Một số học giả cho rằng ở cuối thời Hùng Vương, xã hội nguyên thuỷ đang trong quá trình tan rã, nhà nước chưa ra đời mà mới chỉ có chế độ dân chủ quân sự bộ lạc. Một số nhà khoa học khác lại cho rằng, dù còn sơ khai nhưng nhà nước đã hình thành vào cuối thời Hùng Vương.“ Nghiên cứu về sự hình thành của nhà nước ở Việt Nam trong thời kì này, một mặt phải dựa vào những đặc điểm chung của nhà nước và lí thuyết chung về sự ra đời của nhà nước đồng thời phải tính đến những đặc điểm đặc thù của xã hội đương thời với những yếu tố tác động đặc thù như đã phân tích ở trên. Những thư tịch cổ đều ghi Hùng Vuong là quân trưởng, là ông chúa.

Các truyền thuyết và sử sách nước ta thường nói đến việc Hùng Vương tri vì và có bộ máy giúp việc là lạc hầu, lạc tướng, bồ chính. Hùng Vương và những người trong bộ máy đó được trao quyền lực để quản lí các công việc chung. Việc điều hành xã hội không chỉ được thực hiện băng thuyết phục mà đã sử dụng cả cưỡng chế dé áp đặt ý chí chủ quan thông qua các mệnh lệnh như "sai", "khiến", "lệnh". Thư tịch cổ Trung Quốc viết: "Lạc dân cày ruộng, lạc hầu ăn ruộng".

"Ăn ruộng” có thể là biểu hiện sơ khai của thuế khoá. Thuế - cơ sở vật chất đảm bảo sự tồn tại của quyền lực nhà nước, chỉ xuất hiện khi xã hội đặt ra yêu cầu phải nuôi dưỡng một số người thoát li sản xuất dé nắm quyền lực và dé chi cho các công trình phúc lợi xã hội. Đặc biệt, qua truyền thuyết dân gian và sử sách cô, có thê thay Hùng Vương, lạc hầu, lạc tướng, bồ chính. dường như không còn do (1).Xem: Hing Vuong dựng nước, Sdd; Lịch sử Việt Nam, Tập I, Sdd.

20 các cộng đồng dân cư bầu ra như trong chế độ công xã nguyên thuỷ mà được cha truyền con nối. Sách sử viết, Hùng Vương có 18 đời. Con số 18 đời vua Hùng có lẽ không phải là con số số học cụ thể mà để chỉ rằng, đã có nhiều đời vua Hùng nối ngôi nhau trị vì. Trong tâm linh của mình, người Việt hay dùng con số 9 và các bội số của 9 như: 9 ngọn núi, 9 tầng mây, "voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao", Thạch Sanh đánh tan quân chư hầu 18 nước, 36 nước, giặc An có 36 tướng, 99 ngọn núi Hồng Lĩnh.

Truyền thuyết dân gian, tuy phần nào "quân chủ hoá", "phong kiến hoá" xã hội Hùng Vương nhưng qua đó, nói theo cách của Ph. Angghen, cũng phan ánh về thực trạng của xã hội lúc bấy giờ đã có sự "tiêu biểu cho những mầm mong của quyền lực nhà nước". Mặt khác, cũng theo truyền thuyết dân gian và thư tịch cổ, Hùng Vương, lạc hầu, lạc tướng, bồ chính vẫn mang nhiều dáng dấp của các vị thủ lĩnh thời công xã nguyên thuỷ. Điều này được thể hiện ở ngữ nghĩa của các danh hiệu Hùng Vương, phụ đạo, bồ chính như đã phân tích ở trên.

Ngay trong việc truyền ngôi, tiêu chuẩn tài, đức (tiêu chuẩn số một trong thời đại công xã nguyên thuỷ dé bau thủ lĩnh) vẫn được dé cao (chuyện bánh chưng, bánh dày). Cũng theo truyền thuyết dân gian và thư tịch cổ, nước Văn Lang được chia thành 15 bộ (15 khu vực). Việt sử lược cho biết 15 bộ đó von là 15 bộ lạc. Đứng đầu mỗi bộ lạc là lạc tướng hay còn gọi là phụ đạo.

Như vậy, "bo" một mặt thể hiện sự phân chia dân cư theo sự cắt đặt của "nhà nước", mặt khác nó cũng thể hiện đó là đơn vị tụ cư tự phát nguyên thuỷ hay nói cách khác, đơn vị "b6" mang tinh nửa voi: "vùng - bộ lạc" hoặc "thị tộc, bộ lạc - đơn vị hành chính". Công xã nông thôn cũng trong trạng thái tương tự như vậy. Từ thực trạng trên, có thể nói thời kì Hùng Vương không còn đơn thuần là chế độ dân chủ quân sự bộ lạc nữa nhưng cũng chưa phải là đã có một nhà nước hoàn chỉnh, xét theo quan điểm lí luận chung. Tuy nhiên đó đã là một cơ cầu mới có một số đặc tính của một nhà nước trong tương lai.

NHÀ NƯỚC SƠ KHAI Ở THỜI AN DƯƠNG VUONG 1. Sự thành lập nước Âu Lạc Căn cứ vào truyền thuyết dân gian và thư tịch cổ. nhiều người đã nêu ra các giả thuyết về nước Âu Lạc của Thục Phán - An Dương Vương. Tổng hợp những kết quả nghiên cứu cho đến nay, nhiều học giả đưa ra giả thuyết như sau: Cư dân Văn Lang thời Hùng Vương chủ yếu là người Lạc Việt và còn có cả một bộ phận người Âu Việt (hay còn gọi là người Tây Au)” ở miền núi rừng và trung du phía bắc, hai thành phan đó sống xen kẽ nhau trong nhiều vùng.

Phía bắc nước Văn Lang là địa bàn cư trú của người Âu Việt và cũng có những người Lạc Việt sống xen kẽ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giáo trình "Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam - Đại học Luật Hà Nội - Phần 1" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình hình thành và phát triển của hệ thống nhà nước và pháp luật tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các giai đoạn lịch sử quan trọng mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của pháp luật trong bối cảnh xã hội Việt Nam. Những kiến thức này rất hữu ích cho sinh viên, giảng viên và những ai quan tâm đến lĩnh vực pháp lý, giúp họ nắm bắt được bối cảnh lịch sử và pháp lý để áp dụng vào thực tiễn.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ luật học nhận thức của sinh viên chuyên ngành tiếng anh về những trở ngại khi thuyết trình trong giờ học tiếng anh pháp luật tại đại học luật hà nội, nơi bạn có thể tìm hiểu về những thách thức trong việc giảng dạy và học tập pháp luật. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ giai pháp thu hút giảng viên trình độ cao tại trường đại học hải dương sẽ cung cấp cái nhìn về việc nâng cao chất lượng giảng dạy trong lĩnh vực pháp luật. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo Luận văn thông tin thư viện website trường đại học huế để hiểu rõ hơn về vai trò của thông tin trong việc hỗ trợ học tập và nghiên cứu pháp luật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực pháp luật tại Việt Nam.