Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới trường đại học luật hà nội chủ biên phạm điềm vũ thị nga phạm việt hà phạm thị quý phần 2

Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Thế giới phần 2, chủ biên Phạm Điềm, Vũ Thị Nga, Phạm Việt Hà, Phạm Thị Quý, cung cấp kiến thức chuyên sâu về lịch sử pháp lý toàn cầu.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Thế giới

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình
222
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Sự hình thành chính thể quân chủ nghị viện ở Anh

Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Thế giới - Phần 2 | Đại học Luật Hà Nội tập trung phân tích quá trình hình thành chính thể quân chủ nghị viện ở Anh. Vin hem II đã lật đổ Giêm II và lên ngôi vua với sự ủng hộ của giai cấp tư sản. Đạo luật về quyền hành năm 1689 đã chuyển quyền lực nhà nước từ nhà vua sang nghị viện, đánh dấu sự ra đời của nền quân chủ lập hiến. Đạo luật này quy định nghị viện có quyền lập pháp, quyết định thuế, và kiểm soát quân đội. Sự thỏa hiệp giữa tư sản và quý tộc đã tạo nên cơ sở pháp lý cho chính thể này.

1.1. Đạo luật về quyền hành và sự thỏa hiệp giữa tư sản và quý tộc

Đạo luật về quyền hành năm 1689 là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nhà nước Anh. Nó quy định quyền lực tập trung vào nghị viện, nhà vua chỉ mang tính tượng trưng. Giai cấp tư sản và quý tộc đã thỏa hiệp để duy trì quyền lợi của cả hai bên. Quý tộc được tham gia vào bộ máy nhà nước, trong khi tư sản kiểm soát các quyết định lập pháp. Sự thỏa hiệp này đã tạo nên sự ổn định và bền vững cho chính thể quân chủ nghị viện.

1.2. Quá trình hoàn thiện chính thể quân chủ nghị viện

Từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, chính thể quân chủ nghị viện ở Anh được hoàn thiện thông qua các đạo luật bổ sung và tiền lệ pháp. Luật về quyền hành được bổ sung bởi các văn kiện như Văn kiện ba năm (1694) và Văn kiện năm 1701, đặt nền móng cho các nguyên tắc như chữ ký thứ haikhông thay thế quan tòa. Những nguyên tắc này nhằm hạn chế quyền lực của nhà vua và củng cố quyền lực của nghị viện.

II. Tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ nghị viện

Bộ máy nhà nước quân chủ nghị viện ở Anh bao gồm ba bộ phận chính: hoàng đế, nghị viện, và chính phủ. Hoàng đế chỉ mang tính tượng trưng, trong khi nghị viện nắm quyền lập pháp và giám sát chính phủ. Chính phủ, đứng đầu là thủ tướng, chịu trách nhiệm trước nghị viện. Sự phân quyền này đảm bảo sự cân bằng quyền lực và hạn chế sự chuyên quyền.

2.1. Vai trò của hoàng đế và nghị viện

Hoàng đế trong chính thể quân chủ nghị viện chỉ có vai trò tượng trưng. Mọi quyết định của hoàng đế phải có chữ ký của thủ tướng mới có hiệu lực. Nghị viện là cơ quan quyền lực cao nhất, nắm quyền lập pháp, quyết định ngân sách, và giám sát chính phủ. Sự phân quyền này đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động nhà nước.

2.2. Sự hình thành và phát triển của chính phủ

Chính phủ Anh được hình thành từ viện cơ mật, một cơ quan tư vấn cho nhà vua. Sau cách mạng tư sản, viện cơ mật tách khỏi sự kiểm soát của nhà vua và trở thành nội các. Thủ tướng, đứng đầu nội các, được bổ nhiệm bởi hoàng đế nhưng phải là lãnh đạo đảng chiếm đa số trong hạ nghị viện. Điều này đảm bảo sự ổn định và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

III. Hiến pháp không thành văn và ý nghĩa lịch sử

Hiến pháp không thành văn của Anh là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp tư sản và quý tộc. Nó bao gồm các nguyên tắc và tiền lệ pháp được hình thành qua thời gian. Hiến pháp này đảm bảo sự ổn định và linh hoạt trong quản lý nhà nước, đồng thời là nền tảng cho sự phát triển của chính thể quân chủ nghị viện.

3.1. Quá trình hình thành hiến pháp không thành văn

Hiến pháp không thành văn của Anh được hình thành thông qua các đạo luật, tiền lệ pháp, và tập quán chính trị. Các nguyên tắc như chính phủ trách nhiệmtruyền ngôi vua được định hình qua thời gian. Sự linh hoạt của hiến pháp không thành văn cho phép Anh thích ứng với những thay đổi xã hội và chính trị.

3.2. Ý nghĩa và giá trị lịch sử

Hiến pháp không thành văn của Anh có ý nghĩa lịch sử to lớn. Nó là kết quả của quá trình đấu tranh và thỏa hiệp giữa các giai cấp, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nhà nước. Hiến pháp này cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều quốc gia khác trong việc xây dựng chính thể dân chủ và pháp quyền.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/02/2025
Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới trường đại học luật hà nội chủ biên phạm điềm vũ thị nga phạm việt hà phạm thị quý phần 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

hem Orăng giơ. Về danh nghĩa dòng họ, Vin hem có đủ tư cách thay thế ngôi vua, vì ông ta là con rể của Giêm II. Về thực tế Vin hem là nhà tư sản. Dau tháng 11 năm 1688, được sự chỉ đạo và ủng hộ của giai cấp tư sản, Vin hem dẫn quân về Luân Đôn, lật đổ Giêm II và lên ngôi vua, lấy danh hiệu là Vin hem II.

Để đảm bảo chắc chắn địa vị, quyền lợi của giai cấp tư sản và quý tộc mới, tháng 2/1689, nghị viện thông qua "đạo luật về quyền hành". Theo đạo luật này, quyền lực nhà nước tập trung vào nghị viện, nhà vua không có thực quyền. Đạo luật về quyền hành quy định: 1. Mọi đạo luật và mọi thứ thuế chỉ đều do nghị viện quyết định.

Không một ai, ngoài nghị viện, có thể chấm dứt hiệu lực của đạo luật. Bảo đảm sự tự do tranh luận tại nghị viện. Hàng năm, nghị viện xác định thành phần và số lượng quân đội, xét duyệt kinh phí quốc phòng. Đồng thời tư sản và phái quý tộc đã đi tới những thỏa hiệp sau: - Giai cấp tư sản chấp thuận để giới quý tộc tham gia vào bộ máy nhà nước.

Những quý tộc ruộng đất vẫn được giữ nguyên quyền lợi ruộng đất, nhưng việc kinh doanh ruộng đất không được đi ngược lại quyền lợi của giai cấp tư sản. - Các nghị sĩ quý tộc phải bỏ phiếu đồng ý cho các đạo luật phù hợp với lợi ích của giai cấp tư sản. Đạo luật về quyền hành và những thoả hiệp của liên minh tư sản với quý tộc trở thành cơ sở pháp lí và sự bền vững của nền quân chủ lập hiến, là một trong những nguồn của hiến pháp 2209 không thành văn bản ở Anh. Từ đây, chính thể quân chủ nghị viện đã được xác lập.

Anh là nước có nền quân chủ nghị viện sớm nhất. Sau cách mạng tư sản, giai cấp tư sản Anh phải xoá bỏ hình thức nhà nước cộng hoà nghị viện và thay vào đó là chính thể quân chủ nghị viện vì: - Hoảng sợ trước lực lượng cách mạng quần chúng nhân dân, giai cấp tư sản phải liên minh với thế lực phong kiến cũ để bảo vệ địa vị, quyền lợi của mình, tức là phải thiết lập nhà nước tư sản dưới hình thức quân chủ nghị viện. - Cuộc cách mạng tư sản Anh chống phong kiến không triệt để. Sau cách mạng, tuy chính thể quân chủ chuyên chế đã bị xoá bỏ, nhưng thế lực phong kiến vẫn tồn tại và là lực lượng chính tri trong xã hội.

Su cấu kết giữa giai cấp tư sản và thế lực phong kiến được phản ánh ở thượng tầng kiến trúc, là hình thức nhà nước quân chủ nghị viện mà quyền lực nhà nước tập trung vào nghị viện. - Do tập quán và tâm lí chính trị truyền thống, chế độ quân chủ phong kiến đã từng tồn tại hàng trăm năm. Sau cách mạng tư sản, trong thành phần giai cấp tư sản có tang lớp vốn xuất thân từ quý tộc phong kiến, tức quý tộc tư sản hoá. Nên hình ảnh một quân vương vẫn còn sống động trong tâm lí chính trị của họ.

Việc thiết lập hình thức quân chủ lập hiến còn nhằm hoà hợp được với Châu Âu phong kiến lúc đó. Quá trình hình thành "hiến pháp không thành văn". Tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ nghị viện Sau khi được xác lập và những năm tiếp theo (từ cuối thế kỉ XVII đến cuối thế ki XIX - đầu thế ki XX), thể chế của nên quân chủ lập hiến ở Anh được hoàn thiện và định hình 224 từng bước. Quá trình này được thể hiện bằng một số đạo luật bổ sung và đặc biệt là theo tiền lệ (sự hình thành các tập quán chính tri).

Đó cũng là quá trình hình thành hiến pháp không thành văn của Anh. Cụ thể sau đây là một số minh chứng tiêu biểu: Luật về quyền hành 1689 dan dan được bổ sung: - “Văn kiện ba năm” năm 1694 quy định nhiệm kì của hạ viện là 3 năm. Từ những năm 1870, nhiệm kì của hạ viện là 7 năm. - "Văn kiện” năm 1701 đặt cơ sở bước đầu hình thành hai nguyên tắc quan trọng.

Nguyên tắc "chữ kí thứ hai". Nguyên tác này là bất cứ văn kiện nào của nhà vua để có hiệu lực thì cần phải có chữ kí thứ hai - chữ kí của thủ tướng hoặc của một bộ trưởng bộ có liên quan tới vấn đề có ghi trong văn bản đó. Năm 1711, nguyên tắc "chữ kí thứ hai" được bổ sung thêm nguyên tắc: không chịu trách nhiệm của nhà vua, nhà vua không được làm điều ác, người phải chịu trách nhiệm về văn bản của vua là bộ trưởng hoặc thủ tướng. Mục đích thực tiễn của nguyên tắc chữ kí thứ hai là hạn chế quyền lực của hoàng đế.

Nguyên tac thứ hai là "không thay thế quan toa". Mục đích ban đầu của nguyên tắc này là ngăn ngừa sự chuyên quyền của nhà vua. Nguyên tắc này là nhà vua bổ nhiệm các thẩm phán, nhưng việc thay đổi các quan toà lại thuộc quyền của nghị viện. Trong thế kỉ XVIII - XIX cũng là quá trình hình thành tiền lệ pháp được gọi là nguyên tắc "chính phủ trách nhiệm".

Trong luật pháp thành văn, nội các chưa bao giờ tồn tại. Nhưng trên thực tế dan dan nó được hình thành và nó không chỉ hoạt động, mà ngày càng được củng cố. Nhờ vào nghị viện, nội các hạn chế được quyền lực của nhà vua. Song cũng 223 nảy sinh những mâu thuẫn giữa nghị viện và nội các về quyền hạn.

Do nghị viện nắm quyền lập pháp, quyết định ngân sách,. nên nội các muốn tồn tại được thì phải được sự ủng hộ của đa số thành viên hạ viện. Và dần dần hình thành tập quán chính trị: nghị viện giành cho mình quyền giám sát nội các, hay nói cách khác, chính phủ phải có trách nhiệm trước nghị viện (cụ thể là trước hạ viện). Ngoài ra một loạt các nguyên tắc cơ bản khác của chính thể quân chủ lập hiến cũng dần dần được định hình theo con đường "tiền lệ pháp", như tập quán truyền ngôi vua, mối quan hệ giữa thượng viện và hạ viện v.

Tổng hợp những vấn đề cơ bản mang tính nguyên tắc đó, được người ta gọi là "hiến pháp không thành văn” của nước Anh. Vậy tại sao nước Anh tư sản chỉ có hiến pháp không thành văn, mà không có hiến pháp thành văn như các nước tư sản sau này. Thứ nhất, nhà nước tư sản Anh là nhà nước tư sản đầu tiên. Cuộc cách mạng tư sản Anh cũng là cuộc cách mạng luật pháp lớn lao đầu tiên.

Nó có nhiều sáng kiến pháp luật nổi tiếng, nhưng không thể sáng tạo đầy đủ được. Trong đó nó chưa nghĩ ra được hình thức hiến pháp. Thứ hai, ở Anh các nguyên tắc và những quy chế mang tính lập hiến tạo nên chính thể tư sản là kết quả của cả một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp tư sản và thế lực quý tộc cũ. Nên ngay từ đầu không thể có một văn bản cơ bản mang tính hiến pháp đây đủ.

Cuối cùng, chính thể quân chủ nghị viện Anh được định hình như sau: chính thể này gồm ba bộ phận cơ bản. 226 + Hoàng đế: Hoàng đế Anh truyền ngôi cho con trai, nếu không có con trai thì được truyền ngôi cho con gái. Người muốn lên ngôi hoàng đế phải là người nghiêm túc, trong sạch, theo nếp sống "khuôn vàng thước ngọc” của lễ giáo phong kiến, không được kết hôn hai lần trở lên, không ngoại tình, phải là người theo quốc giáo nước Anh. Hoàng đế là nguyên thủ quốc gia.

Nhưng hoàng đế chỉ nặng về vai trò tượng trưng. Mọi hoạt động của hoàng đế chỉ nhằm một mục đích chính thức hoá về mặt nhà nước các hoạt động của nghị viện, của chính phủ. Mọi quyết định của hoàng đế chỉ có hiệu lực thực thi khi có chữ kí kèm theo của thủ tướng. Tóm lại: Hoàng đế không có thực quyền và đúng như câu ngạn ngữ: "nhà vua tri vì, nhưng không cai trị”.

+ Nghị viện Nước Anh là quê hương của nghị viện tư sản. Thời kì chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh là thời hoàng kim của nghị viện. Nghị viện thật sự có ưu thế hon han các cơ quan nhà nước khác. Lúc bấy giờ, người Anh có câu ngạn ngữ "nghị viện có quyền được làm tất cả, chỉ trừ việc biến đàn ông thành đàn ba".

Nghị viện có những quyền hạn: - Quyền lập pháp. - Quyền quyết định ngân sách và thuế. - Quyền giám sát hoạt động của nội các, bầu hoặc bãi nhiệm các thành viên của nội các. Vai trò và quyển hạn của nghị viện lớn như vậy là để hạn chế tới mức tối đa quyền hạn của nhà vua, làm cho ngai vằng fod trở thành hư vi.

Nước Anh cũng là nước có cơ cấu hai viện vào loại sớm nhất. Sau khi xác lập chính thể quân chủ nghị viện, thượng nghị viện được khôi phục. Dần dần cơ cấu tổ chức, chức năng và quyền hạn của nó được định hình. Thượng nghị viện hay còn gọi là viện nguyên lão, đúng như tên gọi, gồm: đại quý tộc mới, không phải qua bầu cử mà do tầng lớp đại tư sản quý tộc cử ra.

Lúc đầu thượng nghị viện có uy quyền hơn hạ nghị viện. Dần dần, do là đại diện của thế lực bảo thủ, lỗi thời, đã hết vai trò lịch sử trong xã hội, nên thượng nghị viện vừa hoạt động rất hình thức, mang tính chất danh nghĩa, vừa là thế lực kiềm chế và đối trọng của hạ viện. Vai trò kiểm chế và đối trọng đó được thể hiện ở chỗ: khi có thượng viện, ít nhất trong công đoạn làm luật, làm cho việc thông qua các quyết định phải được tiến hành dài hơn, với những thủ tục rườm rà, để ngăn chặn sự quá tả, vội vàng của hạ nghị viện. Thượng nghị sĩ được hình thành từ bốn nguồn sau: - Thượng nghị sĩ là những quý tộc có phẩm hàm (tước vị).

Trong đó từ bá tước trở lên thì được cha truyền con nối chức thượng nghị sĩ. - Các thủ lĩnh tôn giáo đương nhiệm - Các thủ tướng Anh hết nhiệm kì. - Một số khác do đích thân hoàng đế bổ nhiệm. Hạ nghị viện đại diện cho các tầng lớp trong cư dân và do dân bầu ra, nên còn được gọi là viện dân biểu.

Buổi ban bầu, quyền hạn của hạ nghị viện và chế độ bầu cử còn bị hạn chế rất nhiều. Lúc đầu, sau cuộc chính biến của Vin hem năm 1688, trong số gần 7 triệu dân Anh, chỉ có 25 vạn người có quyền tuyển cử. Gần một nửa số hạ nghị sĩ là những người 228 được bầu ra từ những "thi trdn hoang tan".

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Thế giới - Phần 2 của Đại học Luật Hà Nội là tài liệu chuyên sâu, cung cấp cái nhìn toàn diện về sự hình thành và phát triển của các nhà nước và hệ thống pháp luật trên thế giới. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ các giai đoạn lịch sử quan trọng mà còn phân tích sâu về những ảnh hưởng của chúng đến pháp luật hiện đại. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho sinh viên, nghiên cứu sinh và những ai quan tâm đến lĩnh vực pháp lý.

Để mở rộng kiến thức về lịch sử pháp luật, bạn có thể tham khảo thêm Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, giúp hiểu sâu hơn về quá trình phát triển pháp luật tại Việt Nam. Ngoài ra, Giáo trình luật so sánh sẽ mang đến góc nhìn đa chiều về sự khác biệt và tương đồng giữa các hệ thống pháp luật. Cuối cùng, Giáo trình xã hội học pháp luật sẽ giúp bạn khám phá mối quan hệ giữa pháp luật và xã hội, một chủ đề không thể bỏ qua trong nghiên cứu pháp lý.