đặt vấn đề, sau đó mới đến các văn bản giải quyết vấn đề và cuối cùng là các văn bản kết thúc vấn đề. Cách này thường áp dụng để sắp xếp văn bản trong hồ sơ về một sự việc cụ thể và hoàn chỉnh. Ví du: - Hồ sơ xây dựng Hội trường C của. - Hồ sơ Hội nghị.
- Hồ sơ về vụ tranh chấp tại căn nhà số. * Chú ý: Cách sắp xếp này chủ yếu là ta chú ý tới diễn biến của sự việc chứ không chú ý tới thời gian. b) Sắp xếp theo thứ tự thời gian của văn bản: Nghĩa là văn bản mà được ban hành trước thì sắp xếp lên trên, ban hành sau thì xếp xuống dưới. Cách này thường áp dụng để sắp xếp văn bản trong các hồ sơ được lập theo đặc trưng “vấn đề ” , “Cơ quan giao dịch” hoặc “ Tên gọi”.
Ví dụ: Tập văn bản của Chính phủ về công tác chống lũ lụt ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 2015 - 2018. c) Sắp xếp theo vần chữ cái A, B, C: là sắp xếp theo tên người hoặc tên địa phương được đề cập đến trong phần tác giả của văn bản hoặc trong nội dung của văn bản. Cách này thường áp dụng để sắp xếp các văn bản trong những hồ sơ lưu các đơn từ của các cá nhân; Tập bản khai của các cá nhân (để làm các giấy tờ tuỳ thân) hoặc tập báo cáo của các địa phương, ví dụ : 17 Báo cáo công tác tuyển sinh của Phòng Giáo dục các huyện, thành phố thuộc tỉnh Bạc Liêu. Trong hồ sơ này, các báo cáo được sắp xếp theo vần ABC.
tên Phòng Giáo dục các huyện, thành phố. * Chú ý: Đối với tên người thì căn cứ vào chữ cái đầu của phần tên, Đối với tên địa phương, cơ quan thì căn cứ vào chữ cái đầu của âm tiết đầu. Ví dụ: - Nguyễn Văn A ; Nguyễn Thị B - An Giang ; Bến Tre …… d) Sắp xếp theo số thứ tự của văn bản: là sắp xếp văn bản có số nhỏ trước rồi đến số lớn, cách này dùng để sắp xếp các tập lưu văn bản đi ở bộ phận văn thư. đ) Sắp xếp theo theo mức độ quan trọng của tác giả văn bản và theo mức độ quan trọng của loại văn bản: nếu trong một hồ sơ có các cấp độ tác giả khác nhau và các văn bản có mức độ quan trọng khác nhau thì trước hết ta xếp theo cấp độ tác giả sau mới theo mức độ quan trọng của văn bản.
Nghĩa là văn bản của cơ quan cấp trên thì sắp xếp lên trên, văn bản của cơ quan cấp thấp hơn thì xếp xuống dưới ; trong từng cơ quan văn bản nào mức độ quan trọng cao hơn sắp lên trên, thấp hơn xếp xuống dưới, ví dụ: Văn bản của bộ Văn bản của tỉnh Văn bản của huyện Quyết định Quyết định Quyết định Chỉ thị Chỉ thị Chỉ thị Thông tư Hành chính thông thường Hành chính thông thường Hành chính thông thường Cách này thường vận dụng để sắp xếp những văn bản trong những hồ sơ về một vấn đề hoặc về một vụ việc nào đó có liên quan đến nhiều cấp, ngành khác nhau. 3) Đánh số tờ: Người lập hồ sơ thực hiện đánh số tờ đối với hồ sơ có thời hạn bảo quản từ 05 năm trở lên. Đánh số (ghi vị trí) cho từng tờ tài liệu có trong hồ sơ đã được sắp xếp theo một thứ tự hợp lý. - Mục đích: Đánh số tờ là để cố định thứ tự tài liệu có trong hồ sơ, bảo đảm tài liệu không bị thất lạc, mất mát, thuận tiện cho việc quản lý và tra tìm.
- Yêu cầu: Số tờ phải đánh rõ ràng, chính xác bằng bút chì đen mềm. Mỗi tờ dù lớn hay nhỏ dù được tình bày bằng phương tiện gì đều được đánh một số. - Cách đánh số tờ: Mỗi trang tài liệu có chữ được đánh một số bằng chữ số Ả rập, cách mép tài liệu ở phía trên, bên phải 1cm. Dùng bút chì đen, mềm hoặc máy dập số để đánh số thứ tự của tờ tài liệu, từ tờ đầu tiên tới tờ cuối cùng có trong hồ sơ hoặc đơn vị bảo quản.
18 - Chú ý khi đánh số trang: Nếu một trang khổ to gấp đôi đóng ở giữa thì coi như 2 tờ và đánh 2 số, một trang to thì gập bằng khổ giấy và đánh l số. Nếu có ảnh thì đánh số ở mặt sau ảnh và cho ảnh vào phong bì và đánh số ở ngoài bì. Nếu một trang giấy có dán nhiều ảnh hay bài báo thì coi như một tờ và đánh một số. Trường hợp đánh nhầm số thì gạch đi và đánh lại ở bên cạnh; đối với những tờ đã bị bỏ sót khi đánh số thì đánh số trùng với số của tờ trước đó và thêm chữ cái La tinh theo thứ tự abc ở sau, ví dụ: có 2 tờ bị bỏ sót không đánh số sau tờ số 15 thì các tờ đó được đánh số trùng là 15a và 15b và ghi rõ vào tờ chứng từ kết thúc.
Nếu trong hồ sơ có các quyển sách in chỉ cần đánh một số chung cho cả quyển (không đánh số tờ trong sách) và ghi vào chứng từ kết thúc (kèm một quyển sách có …tờ). Nếu một hồ sơ được chia thành nhiều tập (mỗi tập gọi là một ĐVBQ) thì đánh số tờ sẽ được đánh riêng cho từng tập. Mỗi tập (mỗi đơn vị bảo quản) làm một tờ bìa riêng. "Đơn vị bảo quản" là đơn vị thống kê trong nghiệp vụ lưu trữ, đồng thời dùng để quản lý, tra tìm tài liệu trong lưu trữ.
Một hồ sơ nếu có ít văn bản, tài liệu thì lập một đơn vị bảo quản, nếu nhiều văn bản, tài liệu thì được chia thành nhiều tập và mỗi tập trong hồ sơ đó là một đơn vị bảo quản. Ví dụ: Hồ sơ lớp tại chức Thư ký Văn phòng khóa IV tại tỉnh Sóc Trăng ta có thể chia thành 3 tập như sau: Tập 1: Những văn bản liên quan đến tuyển sinh (Tập tài liệu về công tác tuyển sinh lớp tại chức Trung học Thư ký Văn phòng tại khóa 2014 -2016 tại tỉnh Sóc Trăng). Tập 2: Những văn bản liên quan đến kết quả học tập (Tập tài liệu về kết quả học tập của lớp tại chức Trung học Hành chính Văn phòng khóa IV tại tỉnh Sóc Trăng). Tập 3: Những văn bản liên quan đến thi tốt nghiệp (Tập tài liệu về kỳ thi tốt nghiệp của lớp tại chức Trung học Thư ký Văn phòng tại tỉnh Sóc Trăng).
Ba tập này để trong 3 bìa hồ sơ và là 3 đơn vị bảo quản có chung một tiêu đề hồ sơ là: Hồ sơ lớp tại chức Trung học Thư ký Văn phòng khóa 2014 -2016 tại tỉnh Sóc Trăng. - Khi đánh số tờ nên chú ý đến những hồ sơ có hình ảnh đi kèm. Ta có thể: + Cho vào bì rồi đánh số ngoài bì. + Dán hình lên tờ giấy rồi đánh lên giấy (Nếu một tờ giấy được dán nhiều ảnh thì được đánh số như một tờ văn bản).
+ Hoặc đánh vào mặt sau hình. Biên mục hồ sơ 19 Biên mục hồ sơ là ghi chép bìa hồ sơ, tờ mục lục văn bản và viết chứng từ kết thúc. Yêu cầu của biên mục hồ sơ là phải thực hiện chính xác thành phần, nội dung và các yếu tố thông tin cần thiết khác của hồ sơ. a) Viết mục lục văn bản: Mục lục văn bản là bản thống kê các văn bản có trong một hồ sơ đã được sắp xếp và đánh số tờ.
- Mục đích: Viết mục lục tài liệu là nhằm thống kê và cố định thứ tự sắp xếp tài liệu trong hồ sơ (đvbq) để thuận tiện cho việc quản lý và tra tìm thông tin được nhanh chóng, thuận lợi. - Yêu cầu: Cần viết đầy đủ, chính xác các thành phần cần thiết của tài liệu vào mục lục, không được viết tắt những từ ngữ không thông dụng. Chỉ viết Mục lục văn bản đối với hồ sơ có thời hạn bảo quản vĩnh viễn. MỤC LỤC VĂN BẢN (Chí áp dụng đối với hồ sơ có thời hạn bảo quản vĩnh viễn) Số Số, KH Ngày tháng Tác giả Trích yếu, nội Tờ số/ Ghi chú TT văn bản văn bản văn dung văn bản Trang bản số (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) Cách ghi các cột trong mục lục văn bản: - Cột (1): Ghi số thứ tự của các văn bản có trong hồ sơ.
Ví dụ: Hồ sơ có 10 văn bản thì ta ghi từ 1-10 - Cột (2): Ghi số và ký hiệu của văn bản đã được ghi trên văn bản. - Cột (3): Ghi ngày tháng của văn bản đã được ghi trên văn bản. - Cột (5): Ghi tên loại và trích yếu nội dung văn bản đã có trên văn bản. Nếu không có trích yếu thì ta phải đọc văn bản và ghi trích yếu cho văn bản.
- Cột (6): + Tờ số (Áp dụng đối với văn bản giấy): Ghi số thứ tự của tờ đầu tiên và tờ cuối cùng của mỗi văn bản có trong hồ sơ. + Trang số Áp dụng đối với văn bản điện tử: Ghi số thứ tự của trang đầu tiên và trang cuối cùng của mỗi văn bản có trong hồ sơ. Ví dụ: Văn bản thứ nhất có 2 tờ thì ghi 01- 02. Văn bản thứ hai có 5 tờ thì ghi 03 - 07.
Văn bản thứ ba có 4 tờ thì ghi 08 - 11. 20 Cột (7): Ghi chú những điều cần thiết: độ mật, tài liệu quý, hiếm, có ảnh. Nếu tài liệu là bản sao thì ghi ngày tháng và tác giả của bản sao vào cột ghi chú (nếu đã ghi số, ký hiệu, ngày tháng của bản chính vào các cột trên ). b) Viết chứng từ kết thúc: Viết chứng từ kết thúc đối với tất cả hồ sơ.
"Chứng từ kết thúc" là bản ghi số lượng các trang, đặc điểm và tình trạng vật lý của các văn bản, tài liệu có trong hồ sơ hoặc trong đơn vị bảo quản. Ghi số lượng tờ tài liệu, số lượng tờ mục lục văn bản (nếu được in riêng) và đặc điểm của tài liệu (nếu có) trong hồ sơ hoặc đơn vị bảo quản vào tờ chứng từ kết thúc được in riêng hoặc phần chứng từ kết thúc được in sẵn trong bìa hồ sơ theo Tiêu chuẩn ngành TCN 01: 2002 “Bìa hồ sơ”. - Mục đích: là kiểm tra, quản lý, bảo quản văn bản, tài liệu trong đơn vị bảo quản, tránh mất mát, đánh tráo, giả mạo, đồng thời theo dõi được văn bản, tài liệu để có biện pháp bảo quản phục chế kịp thời.