CHƯƠNG 1: CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ 1.6 Hàm lượng sắt (mg/l) Sắt tồn tại trong nước dưới dạng sắt II hoặc sắt III. Trong nước ngầm, sắt thường tồn tại dưới dạng Fe(II) hòa tan của các muối bicacbonat, sùnat, clourua, đôi khi dưới dạng keo của axit humic hoặc keo silic. Khi tiếp xúc với oxy hoặc các chất oxy hóa, Fe (II) bị oxy hóa thành Fe(III) và kết tủa bông cặn Fe(OH)3 có màu nâu đỏ. Nước ngầm thường có hàm lượng Fe cao, đôi khi lên tới 30 mg/l hoặc có thể cao hơn nữa.
Nước mặt chứa Fe(III) ở dạng keo hữu cơ hoặc cặn huyền phù, thường có hàm lượng không cao và có thể kết hợp khử sắt với các công nghệ khử đục Khi trong nước có hàm lượng Fe > 0.5 mg/l nước có mùi tanh khó chịu, làm vàng quần áo khi giặt, làm hư hỏng sản phẩm của ngành dệt, giấy, phim ảnh, đồ hộp và làm giảm tiết diện vận chuyển nước của đường ống.7 Hàm lượng mangan Mangan thường gặp trong nước ở dạng Mn(II), nhưng với hàm lượng nhỏ hơn sắt rất nhiều. Tuy vậy, với hàm lượng mangan >0.05 mg/l đã gây ra các tác hại cho việc sử dụng và vận chuyển nước như sắt. Công nghệ khử mangan thường kết hợp với công nghệ khử sắt.8 Nhu cầu oxy hóa học COD ( Chemical Oxygen Demand) COD là lượng oxy cần thiết để oxy hóa hết các hợp chất hữu cơ ttrong nước, tạo thành CO2 và H2O. COD là đại lượng dùng để đánh giá sơ bộ mức độ nhiễm bẩn của nguồn nước.
COD biểu thị cả lượng chất hữu cơ không thể bị oxy hóa bằng vi khuẩn. Chất oxy hóa thường dùng ở đay là kali permanganat hoặc kali bicromat.9 Nhu cầu oxy sinh học BOD (Biological Oxygen Demand) BOD là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật phân hủy các chất hữu cơ ở điều kiện hiếm khí. Trong môi trường nước, khi quá trình oxy hóa sinh học xảy ra thì các vi sinh vật sử dụng oxy hòa tan. Phản ứng xảy ra như sau: Chất hữu cơ + O2 → CO2 + H2O Vận tốc của quá trình oxy hóa nói trên phụ thuộc vào số vi khuân có trong nước và nhiệt độ của nước.
BOD cũng là một chỉ tiêu dùng để xác định mức độ nhiễm bẩn của nước. BOD có hai phương pháp để xác định: - Xác định bằng phương pháp hóa học khi sử dụng kali permanganat, xanh metylen, xác định từ COD. Thường có BOD5/COD = 0.7 - Xác định bằng phương phá sinh học, dùng chai BOD hay phương pháp hô hấp. Sau 5 ngày khoảng 70-80% các chất hữu cơ bị oxy hoám do đó BOD5 biểu thị một phần tổng BOD.
Thông thường để oxy hóa gần hết hoàn toàn các chất hữu cơ (98-99%) đòi hỏi sau 20 ngày. 21 CHƯƠNG 1: CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ 1.3 Chỉ tiêu vi sinh Trong nước thiên nhiên có nhiều loại vi trùng, siêu vi trùng, tong, tảo và các loài thủy sinh khác. Tùy theo tính chất, các loiaj vi sinh trong nước được chiaw thành hai nhóm: nhóm vi sinh có hại và nhóm vi sinh vô hại. Nhóm vi sinh có hại bao gồm các vi trung gây bệnh, các loại rong rêu, tảo nhóm này cần loại bỏ khỏi nước trước khi sử dụng.
Các loại vi khuẩn gây bệnh có trong nước có thể làm con người nhiễm cấc bệnh như kiết ly, thương hàn, dịch tả, bại liệt. Các loại rong tảo phát triển trong nước là do trong nước có sự tồn tại của các chất dinh dưỡng NH4+, NH3, N2, PO43-. và nhờ ánh sáng mặt trời chiếu vào nguồn nước.