Giáo Trình Kết Cấu Nhà Cao Tầng Bê Tông Cốt Thép - Phần 1

Giáo trình kết cấu nhà cao tầng bê tông cốt thép phần 1: Kiến thức nền tảng về thiết kế, tính toán kết cấu nhà cao tầng hiện đại. Tài liệu hữu ích cho sinh viên, kỹ sư xây dựng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình
116
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

MỤC LỤC

MỤC LỤC HÌNH ẢNH

MỤC LỤC BẢNG

1. Chƣơng 1: TỔNG QUAN NHÀ CAO TẦNG

1.1. Khái niệm về nhà cao tầng

1.2. Lịch sử phát triển

1.3. Phân loại nhà cao tầng

2. CÁC HỆ KẾT CẤU CHỊU LỰC NHÀ CAO TẦNG

2.1. Khái niệm về các hệ kết cấu chịu lực

2.2. Đặc điểm chịu lực nhà cao tầng

2.3. Đặc điểm sử dụng vật liệu

2.4. Các hệ kết cấu chịu lực nhà cao tầng

2.5. Nguyên tắc lựa chọn kết cấu chịu lực nhà cao tầng

2.6. Giải pháp kiến trúc

2.7. Giải pháp kết cấu

2.8. Bố trí khe co dãn, khe lún, khe kháng chấn

2.9. Kết cấu nhà cao tầng

2.10. Kết cấu theo phƣơng đứng

2.11. Kết cấu theo phƣơng ngang (sàn và các dầm)

2.12. Sơ đồ làm việc nhà cao tầng

2.13. Cơ sở thiết kế nhà cao tầng

3. TẢI TRỌNG TÁC ĐỘNG LÊN NHÀ CAO TẦNG

3.1. Tải trọng đứng

3.2. Dao động riêng của hệ nhiều bậc tự do

3.3. Xác định tần số dao động riêng

3.4. Xác định tần số dao động bằng các phần mềm Sap, Etabs

3.5. Tải trọng gió tĩnh và động

3.6. Tổ hợp nội lực (tải trọng) do tải trọng gió

3.7. Tính tần số dao động từ phần mềm Etabs

3.8. Tải trọng động đất

3.9. Khái niệm chung về động đất

3.10. Phản ứng của công trình dƣới tác dụng của động đất

3.11. Các phƣơng pháp xác định tải trọng động đất

3.12. Phƣơng pháp xác định tải trọng động đất theo TCVN 9386-2012

3.13. Số dạng dao động cần xét đến trong tính toán động đất

3.14. Tổ hợp các hệ quả của các thành phần tác động động đất

3.15. Tổ hợp tải trọng

3.16. Các hiệu ứng bậc hai (hiệu ứng P - )

3.17. Ví dụ tính toán

4. TÍNH TOÁN KẾT CẤU NHÀ CAO TẦNG

4.1. Khái niệm chung

4.2. Giả thiết tính toán

4.3. Ảnh hƣởng của kết cấu sàn đến sự làm việc của các hệ chịu lực thẳng đứng

4.4. Các phƣơng pháp tính toán

4.5. Xác định nội lực hệ vách cứng theo phƣơng pháp Khandzi

4.6. Phân phối tải trọng vào vách cứng thứ i

4.7. Phân phối mô men vào vách cứng thứ i

4.8. Xác định nội lực nhà cao tầng bằng phần mềm thông dụng

4.9. Dữ liệu bài toán

4.10. Trình tự thực hiện

5. KIỂM TRA SỰ LÀM VIỆC CỦA NHÀ CAO TẦNG

5.1. Kiểm tra ổn định tổng thể

5.2. Kiểm tra gia tốc dao động

5.3. Xác định chuyển vị của nhà cao tầng

5.4. Xác định độ nghiêng, lệch của nhà cao tầng

5.5. Xác định chuyển vị ngang của nhà cao tầng

5.6. Kiểm tra ổn định nghiêng lật của công trình

6. NGUYÊN TẮC KIỂM TRA BỀN VÀ CẤU TẠO KẾT CẤU CHỊU LỰC

6.1. Nguyên tắc chung

6.2. Các tiết diện tính toán và tổ hợp nội lực

6.3. Kiểm tra các tiết diện ngang

6.4. Tính toán cốt thép cấu kiện chịu nén lệch tâm xiên

6.5. Tính toán cốt đai cột (TCVN 5574:2012)

6.6. Lập biểu đồ tƣơng tác

6.7. Tính toán vách cứng

6.8. Cấu tạo cốt thép dầm

6.9. Cấu tạo cốt thép cột

6.10. Cấu tạo cốt thép nút khung

6.11. Cấu tạo cốt thép vách cứng và lõi cứng

6.12. Lựa chọn và bố trí các vách và lõi cứng

6.13. Cấu tạo vách và lõi cứng

6.14. Nối cốt thép

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giáo trình kết cấu nhà cao tầng Tổng quan Lịch sử

Giáo trình kết cấu nhà cao tầng bêtông cốt thép là tài liệu quan trọng cho sinh viên ngành Kỹ thuật công trình xây dựng. Nó cung cấp kiến thức nền tảng về kết cấu bê tông cốt thép, một loại kết cấu chủ yếu trong xây dựng hiện đại. Việc nắm vững kiến thức này là thiết yếu cho kỹ sư xây dựng. Kết cấu nhà cao tầng thường tích hợp nhiều hệ chịu lực liên kết chặt chẽ, hoạt động như một hệ thống thống nhất. Do đó, hiểu rõ bản chất làm việc của từng hệ chịu lực là ưu tiên hàng đầu trong thiết kế và thi công. Giáo trình này trình bày các nguyên tắc cơ bản để lựa chọn giải pháp kết cấu nhà cao tầng hợp lý, phân tích và áp dụng các giả thiết, lý thuyết tính toán, sơ đồ tính toán, xác định tải trọng và yêu cầu cấu tạo, phù hợp với thực tế làm việc của từng loại kết cấu nhà cao tầng bê tông cốt thép.

Từ đầu thế kỷ XX, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy việc xây dựng các công trình chọc trời. Nhà cao tầng trở thành biểu tượng của sự phồn thịnh và phát triển, đặc biệt là ở Mỹ. Năm 1913, cao ốc Woolworth Building được xây dựng (57 tầng, 241m), tiếp theo là cao ốc Chrysler (319m) và Empire State Building (381m). Sau đó, tháp đôi World Trade Center ra đời (415 và 417 m) và Sears Tower ở Chicago (442 m). Xu hướng này cũng lan rộng sang châu Á từ những năm 1970 với các công trình như Bank of China Tower (Hong Kong), Jin Mao Tower (ShangHai) và Petronas Tower (Malaysia).

1.1. Định nghĩa chi tiết về Nhà Cao Tầng Tiêu chuẩn Phân loại

Định nghĩa nhà cao tầng thay đổi theo từng quốc gia, phụ thuộc vào sự phát triển khoa học kỹ thuật, kinh tế, xã hội và ứng dụng công nghệ. Ủy ban nhà cao tầng Quốc tế định nghĩa nhà cao tầng là công trình có chiều cao quyết định các điều kiện thiết kế, thi công hoặc sử dụng khác với nhà thông thường. Một định nghĩa khác là nhà có chiều cao ảnh hưởng tới ý đồ và cách thức thiết kế. Tiêu chuẩn về nhà cao tầng khác nhau giữa các quốc gia, ví dụ như Trung Quốc, Nga, Mỹ, Pháp, Anh, Nhật Bản và Đức. Phân loại nhà cao tầng có thể dựa trên mục đích sử dụng (nhà ở, văn phòng, khách sạn), hình dạng (nhà tháp, nhà dạng thanh), chiều cao (loại I, II, III, IV theo Ủy ban nhà cao tầng Quốc tế), vật liệu cơ bản (bê tông cốt thép, thép, kết cấu tổ hợp) và dạng kết cấu chịu lực (khung, tấm, hệ lõi, hỗn hợp). Các nước trên thế giới có cách phân loại khác nhau, và Việt Nam đang có xu hướng theo Ủy ban Nhà cao tầng Quốc tế.

1.2. Trường phái kiến trúc nhà cao tầng Chicago và New York

Có hai trường phái kiến trúc nhà cao tầng chính là Chicago và New York. Trường phái Chicago xuất hiện trước, mang nặng về mặt kỹ thuật, có hình thức khối tương đối vuông vắn, cục mịch và không đa dạng. Các tòa nhà chọc trời ở Chicago được thiết kế thiên hướng theo công năng và kết cấu hiện đại, mang tính công nghệ cao nhưng không phong phú về nghệ thuật. Trường phái New York xuất hiện sau, có đặc điểm phong phú và đa dạng về hình thức kiến trúc, xử lý hình khối kiến trúc một cách nghệ thuật. Các tòa nhà chọc trời ở New York có xử lý nghệ thuật ở phần mái, kết hợp tổ hợp mặt bằng và mặt đứng. Thành phố New York có nhiều tòa nhà cao tầng với kiến trúc nổi bật mang nhiều phong cách khác nhau, như Woolworth Building, Chrysler Building và Seagram Building.

II. Cách chọn hệ kết cấu chịu lực nhà cao tầng P1

Việc lựa chọn hệ kết cấu chịu lực nhà cao tầng hợp lý phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chiều cao, điều kiện địa chất thủy văn, bản đồ phân vùng động đất và giải pháp kiến trúc. Quan điểm thiết kế hệ chịu lực ảnh hưởng lớn tới khả năng chịu lực của nhà cao tầng dưới tác động của tải trọng ngang. Khả năng kháng chấn phụ thuộc vào tính đơn giản của kết cấu, kích thước hình khối và mặt bằng nhà, tỉ lệ giữa chiều cao và chiều rộng nhà, và tính đối xứng (hình học, độ cứng, trọng lực).

Cần đảm bảo tính đồng nhất và liên tục của việc phân bổ độ cứng và cường độ của các cấu kiện chịu lực. Các cấu kiện chịu tải ngang (cột, vách, lõi) không đổi suốt chiều cao, phải đồng trục, tránh lệch trục. Tất cả các cột và vách chịu lực đều liên tục và đường truyền tải của nó không bị gãy hoặc đứt khúc từ móng đến mái. Tất cả các dầm không có dạng khúc khuỷu, nên bố trí lưới cột sao cho các nhịp dầm gần bằng nhau.

2.1. Giải pháp kiến trúc ảnh hưởng đến kết cấu chịu lực như thế nào

Kiến trúc sư sáng tạo và biến đổi hình dạng công trình, xác định qua các kích thước hình dạng mặt bằng, hình dạng trên chiều cao đồng thời đã tác động trực tiếp đến việc lựa chọn hệ kết cấu chịu tải của nó: bao gồm cả vị trí thiết kế, loại cấu kiện chịu tải và vật liệu sử dụng. Khả năng chịu lực của nhà cao tầng dưới tác động của tải trọng ngang về cơ bản được quyết định bởi giải pháp kiến trúc.

2.2. Tính đồng nhất và liên tục trong phân bổ độ cứng Vì sao

Khi thiết kế kháng chấn cần phải tạo ra một sự đồng nhất và liên tục trong việc phân độ cứng và cường độ của các cấu kiện chịu tải. Độ cứng của các cấu kiện chịu tải ngang (cột, vách, lõi) không đổi suốt chiều cao phải đồng trục, tránh lệch trục. Tất cả các cột và vách chịu lực đều liên tục và đường truyền tải của nó không bị gãy hoặc đứt khúc từ móng đến mái. Tất cả các dầm không có dạng khúc khuỷu (do thay đổi tiết diện dầm), nên bố trí lưới cột sao cho các nhịp dầm gần bằng nhau. Các cột và dầm phải đồng trục, bề rộng các cột và dầm phải gần bằng nhau, để dễ dàng cho việc cấu tạo các chi tiết cốt thép và thuận lợi cho việc truyền mô men, lực cắt qua chỗ liên kết giữa chúng.

2.3. Phân bố khối lượng và độ cứng Cách tối ưu cho công trình

Phải bố trí sao cho khối lượng các tầng không đổi, nếu có thay đổi thì giảm dần theo chiều cao nhà và tâm khối lượng các tầng nên đồng trục, tránh lệch trục. Trong nhà khung - vách cần tuân theo các yêu cầu sau: Trong mặt bằng nhà hình chữ nhật nên bố trí từ ba vách trở lên theo cả hai phương. Nên thiết kế các vách giống nhau (về độ cứng cũng như kích thước hình học) và bố trí sao cho tâm cứng của hệ trùng với tâm trọng lực (trọng tâm hình học mặt bằng) nhà. Nếu độ lệch tâm này càng lớn công trình có thể bị phá hoại do tác động xoắn. Các vách nên có chiều cao chạy suốt từ móng đến mái và có độ cứng không đổi trên toàn bộ chiều cao hoặc giảm dần từ dưới lên trên.

III. Các hệ kết cấu chịu lực So sánh ưu và nhược điểm

Các cấu kiện chịu lực chính tạo thành các hệ chịu lực nhà cao tầng bao gồm: Cấu kiện dạng thanh (cột, dầm), cấu kiện dạng tấm (tường, sàn) và cấu kiện không gian (lõi cứng). Trong nhà cao tầng, khi có sự hiện diện của các khung thì tuỳ theo các làm việc của các cột trong khung mà hệ kết cấu chịu lực được phân thành các loại sơ đồ: sơ đồ khung, sơ đồ giằng và sơ đồ khung- giằng. Phụ thuộc vào các giải pháp kiến trúc, từ 3 thành phần kết cấu chính có thể liên kết tạo thành 2 nhóm kết cấu chịu lực: Gồm 1 cấu kiện chịu lực độc lập – khung, tường, vách, lõi hộp (ống); hoặc Hệ chịu lực được tổ hợp từ 2 hoặc 3 cấu kiện cơ bản trở lên: KHUNG + VÁCH; KHUNG + LÕI; KHUNG + VÁCH + LÕI v.v...

3.1. Hệ khung chịu lực Ưu điểm và Hạn chế cần lưu ý

Các khung ngang và khung dọc liên kết thành 1 khung phẳng hoặc khung không gian, tải lên khung bao gồm tải trong theo phương đứng và phương ngang. Để đảm bảo độ cứng tổng thể cho công trình nút khung phải là nút cứng. Dưới tác dụng của tải trọng, các thanh cột và dầm vừa chịu uốn, cắt vừa chịu kéo, nén. Chuyển vị của khung gồm 2 thành phần chuyển vị ngang do uốn khung như chuyển vị ngang của thanh côngxon thẳng đứng, tỷ lệ này khoảng 20%. Chuyển vị ngang do biến dạng của các thanh thành phần, chiếm khoảng 80% (trong đó do dầm biến dạng khoảng 65%; do cột biến dạng khoảng 15%). Khung có độ cứng ngang bé, khả năng chịu tải không lớn, thông thường khi lưới cột bố trí đều đặn, trên mặt bằng khoảng 6-9 m, chỉ nên áp dụng cho nhà dưới 30 tầng. Về tổng thể, biến dạng ngang của khung cứng thuộc loại biến dạng cắt.

3.2. Hệ tường chịu lực Khi nào nên sử dụng và tại sao

Là một hệ tấm tường phẳng vừa làm nhiệm vụ chịu tải trọng đứng, vừa là hệ thống chịu tải trọng ngang và là tường ngăn giữa các phòng. Trong các nhà mà tường chịu lực chỉ đặt theo một phương, sự ổn định của công trình theo phương vuông góc được đảm bảo nhờ các vách cứng. Trong thực tế, đối với nhà cao tầng, tải trọng ngang bao giờ cũng chiếm ưu thế nên các tấm tường chịu lực được thiết kế để vừa chịu tải trọng ngang vừa chịu tải trọng đứng. Các tấm tường được làm bằng BTCT có khả năng chịu cắt và chịu uốn tốt nên được gọi là vách cứng.

3.3. Hệ lõi chịu lực Cấu tạo và Ứng dụng trong thực tế

Lõi có dạng vỏ hộp rỗng tiết diện kín hoặc hở, chịu tải trọng đứng và ngang tác dụng lên công trình và truyền xuống đất nền. Lõi có thể xem là sự kết hợp của nhiều tấm tường theo các phương khác nhau. Trong lõi có thể bố trí hệ thống kỹ thuật, thang bộ, thang máy. Các hệ lõi chịu lực. Trường hợp nhà có nhiều lõi cứng thì chúng được đặt xa nhau và các sàn được tựa lên hệ thống dầm lớn liên kết với các lõi. Các lõi cứng được bố trí trên mặt bằng nhà sao cho tâm cứng của công trình trùng với trọng tâm của nó để tránh bị xoắn khi dao động.

IV. Tính toán kết cấu nhà cao tầng Cơ sở và Phương pháp

Khi thiết kế nhà cao tầng cần xem xét công trình đó có nằm trong vùng có khả năng xảy ra động đất mạnh hay không để áp dụng các qui định tương ứng. Kết cấu không có thiết kế chống động đất gọi là kết cấu thông thường. Đặc biệt chú ý đến các yêu cầu cấu tạo khi thiết kế kết cấu chống động đất. Kết cấu nhà cao tầng cần phải tính toán và kiểm tra về độ bền, biến dạng, độ cứng, ổn định và dao động. Nội lực và biến dạng của kết cấu nhà cao tầng được tính toán theo phương pháp đàn hồi. Đối với dầm, có thể điều chỉnh lại nội lực do biến dạng dẻo.

4.1. Tải trọng tác động lên nhà cao tầng Quy trình tính toán

Tải trọng tác động lên nhà cao tầng bao gồm tải trọng thẳng đứng (tĩnh tải, hoạt tải) và tải trọng ngang (gió, động đất). Tĩnh tải là tải trọng tác động thường xuyên, có vị trí, phương, chiều và giá trị không đổi trong quá trình sử dụng. Hoạt tải là tải trọng tác động không thường xuyên. Tải trọng gió do tác động của khi hậu và thời tiết thay đổi theo thời gian, độ cao, và địa điểm dưới dạng áp lực trên các mặt hứng gió hoặc hút gió của ngôi nhà. Tải trọng động đất là một trong những tải trọng đặc biệt là các lực quán tính phát sinh trong công trình khi nền đất chuyển động. Tải trọng động đất có thể tác động đồng thời theo phương thẳng đứng và phương ngang.

4.2. Chọn chiều dày sàn Yếu tố ảnh hưởng đến tính toán

Lý thuyết tính toán nhà cao tầng hiện nay đều dựa vào giả thiết xem sàn (dầm) là vách cứng trong mặt phẳng nằm ngang, nghĩa là xem sàn tuyệt đối cứng trong mặt phẳng của nó (mặt phẳng nằm ngang) và mềm ngoài mặt phẳng của nó (mặt phẳng thẳng đứng). Nếu nhà không bị xoắn thì chuyển vị ngang mọi điểm trên cùng một sàn bằng nhau, chuyển vị ngang trên các tầng thì khác nhau. Đồng thời, thường bố trí các đường ống kỹ thuật trong sàn nên cần tăng chiều dày sàn so với nhà thấp tầng.

4.3. Tính toán kích thước cột và vách Điều kiện tiên quyết

Chọn sơ bộ kích thước cột khi hệ chịu lực là thuần khung: tính toán và chọn theo những quy định thông thường của nhà thấp tầng. Kích thước cột khi hệ chịu lực là khung – vách (lõi): cột hầu như chỉ chịu tải trọng đứng, còn tải trọng ngang do vách (lõi) chịu nên lực dọc lấy như sau: Ntt =N. Kích thước vách cứng: chiều dày vách đổ toàn khối chọn ≥200mm và ≥1/20 chiều cao tầng.

V. Ảnh hưởng của tầng hầm đến kết cấu nhà cao tầng

Đối với nhà cao tầng nên thiết kế tầng hầm với mục đích: Tăng diện tích sử dụng, giảm chiều cao nhà, giảm chuyển vị ngang của nhà, giảm dao động, tăng ổn định về lật. Maët ñaát Saøn taàng haàm Tuy nhiên việc thiết và thi công tầng hầm đòi hỏi phải có công nghệ cao, phải có biện pháp thi công thích hợp để tránh hậu quả.

5.1. Cách thiết kế sàn nhà cao tầng

Tính toán chiều dày của sàn bằng chiều dày sàn chọn theo quy định nhà thấp tầng nhân thêm hệ số 1.05-1.25. Chiều dày bản sàn của nhà cao tầng phải lớn hơn so với nhà thấp tầng.

VI. Dao động riêng của hệ nhiều bậc tự do

Xét hệ có một bậc tự do: xét một dầm đơn giản không trọng lƣợng mang khối lƣợng tập trung m chịu tác dụng của tải trọng động P(t), hệ có một bậc tự do là chuyển vị theo phƣơng đứng y(t) của khối lƣợng m. Xét dầm đơn giản mang n khối lƣợng tập trung, hệ chịu tác dụng của tải trọng động.

6.1. Tính toán dao động của hệ

Với điều kiện cân bằng lực đối với khối lượng thứ k bỏ qua ảnh hưởng của lực cản

28/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NHÀ CAO TẦNG 1. Khái niệm về nhà cao tầng Định nghĩa về nhà cao tầng thay đổi từng nƣớc tùy thuộc vào sự phát triển khoa học kỹ thuật, kinh tế, xã hội và ứng dụng công nghệ của nƣớc đó. Theo Ủy Ban nhà cao tầng Quốc tế: ”Một công trình đƣợc xem là nhà cao tầng nếu chiều cao của nó quyết định các điều kiện thiết kế, thi công hoặc sử dụng khác với nhà thông thƣờng”. Có thể định nghĩa theo cách khác: “Nhà cao tầng là một nhà mà chiều cao của nó ảnh hƣởng tới ý đồ và cách thức thiết kế”.

Quy định nhà cao tầng của một số quốc gia: Trung Việt Quốc gia SNG Mỹ Pháp Anh Nhật Đức Quốc Nam 10 tầng 10 tầng 10 tầng Nhà ở >50 m 11 tầng trở lên trở lên trở lên Cao 22 Công và chiều Công > 24,3 m m tính từ trình cao Nhà trên cao từ 31 trình 7 tầng >24 m >28 m mặt nền trên 40 m 22 -25 m m khác 1. Lịch sử phát triển Từ đầu thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật (nhƣ công nghệ vật liệu, công nghệ chế tạo máy .) đã đƣa thế giới vào một cuộc chạy đua xây dựng các công trình chọc trời. Do vậy nhà cao tầng xuất hiện và trở thành biểu tƣợng cho sự phồn thịnh và phát triển mà điển hình là sự phát triển ở Mỹ: - Năm 1913 cao ốc Woolworth Building đƣợc xây dựng (57 tầng, 241m); - Năm 1930 xây dựng cao ốc Chrysler chiều cao 319m; sau vài tháng tòa nhà Empire State Building đƣợc xây dựng cao 381m (102 tầng), tính cả ăngten – cao 448 m. - Sau đó tháp đôi World Trade Center ra đời cao 415 và 417 m (Bị đánh bom 11/09/2001).

- Năm 1973 xây dựng Sears Tower ở Chicagol, cao 442 m. Ở Châu Á, xu hƣớng phát triển này cũng bắt đầu từ những năm 70 mà điển hình là: - Bank of China Tower – Hong Kong cao 269m (70 tầng); - Jin Mao Tower ShangHai cao 421m (86 tầng); - Petronas Tower Malaysia cao 450m (95 tầng). Nhà cao tầng ở Mỹ: -1- Trƣờng phái nhà cao tầng Chicago: Là trƣờng phái nhà cao tầng xuất hiện trƣớc đặc điểm phát triển nhà cao tầng theo kiến trúc High-Tech và Super High-Tech. Mang nặng về mặt kỹ thuật, có hình thức khối tƣơng đối vuông vắn, cục mịch và không đa dạng cũng nhƣ không mang tính nghệ thuật.

Kiểu nhà cao tầng phổ biến nhất tại thành phố Chicago nói riêng và toàn nƣớc Mỹ nói chung là những tòa nhà chọc trời đƣợc thiết kế thiên hƣớng theo công năng và kết cấu hiện đại mang tính công nghệ cao nhƣng không mang tính phong phú và đa dạng về nghệ thuật kiến trúc nhà cao tầng. Kể từ khi đƣợc giới thiệu và sử dụng rộng rãi, kiến trúc này đã làm chuyển đổi các tòa nhà theo phong cách Châu Âu cổ điển sang trƣờng phái thiết kế theo công nghệ phô diễn kết cấu. Cao ốc Woolworth (241m) Cao ốc Chrysler (319m) State Empire Building (344m) Hình 1. Các tòa nhà cao tầng nổi tiếng ở Mỹ.

Trƣờng phái nhà cao tầng New York: Là trƣờng phái sau trƣờng phái nhà cao tầng Chicago, có đặc điểm phong phú và đa dạng về hình thức kiến trúc của tổ hợp. Trƣờng phái này có xử lý hình khối kiến trúc của tổ hợp một cách nghệ thuật. Bao gồm: Tổ hợp mặt bằng; tổ hợp mặt đứng mà hiệu quả là phần kết của mặt đứng. Trƣờng phái này thể hiện bởi các kiểu nhà cao tầng phổ biến nhất tại thành phố New York là những tòa nhà chọc trời.

Kể từ khi đƣợc giới thiệu và sử dụng rộng rãi ở đây, kiến trúc này đã làm chuyển đổi các tòa nhà của New York từ kiểu truyền thống Châu Âu thấp và các khối nhà theo phong cách cao tầng thô mộc Chicago sang những khu thƣơng mại vƣơn thẳng đứng lên cao và có xử lý nghệ thuật ở phần mái. Đến 8/2008, New York có 5.538 tòa nhà cao tầng (nhiều nhất ở Hoa Kỳ và đứng hạng nhì thế giới sau Hong Kong). Hiện nay thành phố có 50 nhà chọc trời xây dựng xong, cao trên 200 mét. Bị bao quanh bởi mặt nƣớc, mật độ dân số và giá trị bất động sản cao trong những -2- khu thƣơng mại khiến cho New York trở thành nơi tập trung nhiều nhất các tòa nhà, tòa tháp chung cƣ và văn phòng trên thế giới.

New York có những tòa nhà cao tầng với kiến trúc nổi bật mang nhiều phong cách khác nhau. Woolworth Building tại 40 phố Wall (1913), là tòa nhà chọc trời mang kiến trúc Gothic phục hƣng thời kỳ đầu. Nghị quyết phân vùng năm 1916 bắt buộc các tòa nhà mới phải đƣợc xây theo kiểu hình chồng lên nhau (phần dƣới có diện tích rộng hơn phần trên) và giới hạn các tháp bằng một phần trăm nền đất bên dƣới để cho ánh nắng mặt trời chiếu xuống đƣờng phố bên dƣới. Kiểu thiết kế art deco của tòa nhà Chrysler năm 1930 với đỉnh thon nhỏ và hình chóp bằng thép đã phản ánh những yêu cầu bắt buộc đó.

Tòa nhà này đƣợc nhiều sử gia và kiến trúc sƣ xem nhƣ là tòa nhà đẹp nhất New York với cách trang trí rõ nét, thí dụ các góc của tầng 61 có hình biểu tƣợng chim ó gắn trên nắp phía trƣớc đầu xe Chrysler kiểu năm 1928 và cả các mẫu đèn hình chữ v đƣợc ghép chặt bởi một tháp chóp bằng thép ở trên đỉnh tòa nhà. Một ví dụ về ảnh hƣởng lớn của kiến trúc phong cách quốc tế tại Hoa Kỳ là tòa nhà Seagram (1957), đặc biệt vì diện mạo của nó sử dụng các xà bằng thép hình chữ H đƣợc bọc đồng dễ nhìn thấy để làm nổi bật cấu trúc của tòa nhà. Tòa nhà Condé nast (2000) là một thí dụ điển hình cho cấu trúc thiết kế bền vững (Sustainable Design) trong các tòa nhà chọc trời của Hoa Kỳ. Nhà cao tầng ở Chicago.

Đặc điểm của các khu dân cƣ lớn của New York thƣờng là các dãy nhà phố (rowhouse, townhouse) đá nâu tao nhã và các tòa nhà cao tầng tồi tàn đƣợc xây dựng trong một thời kỳ mở rộng nhanh từ năm 1870 đến năm 1930. Đá và gạch trở thành các vật liệu xây dựng chọn lựa của thành phố sau khi việc xây nhà gỗ bị hạn chế bởi vụ cháy lớn vào năm 1835. Không giống nhƣ Paris trong nhiều thế kỷ đã đƣợc xây dựng từ chính nền đá vôi của mình, New York luôn lấy đá xây dựng từ một hệ thống các mỏ đá xa xôi và các tòa nhà xây bằng đá của thành phố thì đa dạng về kết cấu và -3- màu sắc. Một điểm nổi bật khác của nhiều tòa nhà cao tầng trong thành phố là có sự hiện diện của những tháp nƣớc bằng gỗ đặt trên nóc.

Vào thập niên 1800, thành phố bắt buộc các tòa nhà cao trên sáu tầng gắn các tháp nƣớc nhƣ vậy để không cần phải nén nƣớc quá cao ở các cao độ thấp mà có thể làm bể các ống dẫn nƣớc của thành phố. Những tòa nhà cao tầng chung cƣ có vƣờn hoa trở nên quen thuộc suốt thập niên 1920 tại những khu ngoại ô trong đó có Jackson Heights nằm trong quận Queens. Dạng trƣờng phái nhà cao tầng này lan tỏa trên nƣớc Mỹ với nhiều công trình có thẩm mỹ đẹp và nổi bật. Dƣới đây là một vài công trình minh họa.

Nhà cao tầng ở New York. Nhà cao tầng ở Châu Âu: Châu Âu đi sau Mỹ trong quá trình phát triển nhà cao tầng. Từ những năm 1950 Frankfurt - Đức trở thành thành phố nhà cao tầng đầu tiên của Châu Âu. Năm 1960 tháp Henninge trong khu phố Sachsenhausen là căn nhà Frankfurt đầu tiên vƣợt qua tháp tây của nhà thờ lớn Frankfurt về chiều cao (120 mét).

các nhà cao nhất của những năm 1970 (Plaza Baro Center/khách sạn Marriott, DG-Bank (ngân hàng hợp tác xã Đức), Dresdner Bank) là những tòa nhà cao nhất nƣớc Đức với chiều cao tròn 150m, tháp hội chợ (Messeturm) 1990 đạt chiều cao 257 m và đã là tòa nhà cao nhất châu Âu cho đến 7 năm sau đó bị vƣợt qua bởi tòa nhà cao 259 m (cả ăngten cao 300 m) là trụ sở chính của Commerzbank. Nhà cao tầng ở Mỹ La tin, Trung Đông, Châu Á: Từ cuối thập niên 1930, nhà cao tầng cũng dần dần xuất hiện ở Nam Mỹ và ở Châu Á nhƣ: Thƣợng Hải, Hồng Kông và Singapore. -4- Trƣớc sự khan hiếm về đất đai xây dựng cũng nhƣ tỉ lệ hoàn vốn và lợi nhuận trên diện tích sàn cao, nhà chọc trời trở thành một xu hƣớng phát triển chung của loài ngƣời. Mặt khác, nhà cao tầng cũng đƣợc xem nhƣ biểu tƣợng của sức mạnh kinh tế.

Kể từ cuối thập niên 1980, Hồng Kông và Trung Quốc đóng góp một số công trình nhà cao tầng nổi tiếng, bao gồm nhà băng Trung quốc và trung tâm tài chính quốc tế. Trên thế giới bộ ba Chicago, Hồng Kông và New York đƣợc xem là ba ông lớn về nhà cao tầng trên thế giới. Trong số 10 tòa nhà cao nhất thế giới hiện nay, Châu Á chiếm tới 8 và giữ ngôi vị quán quân của Châu Á vẫn là tháp Taipei 101 với chiều cao 509 m. Hiện nay, Châu Á đua nhau xây nhà cao nhất thế giới.

Bƣớc vào thế kỷ 21, ngay cả những nƣớc giàu có về dầu lửa ở Trung Đông cũng chƣa thể so với các thành phố Châu Á trong cuộc đua xây dựng các tòa nhà cao chọc trời. Tuy nhiên, cuối năm 2008, Taipei 101 đã phải nhƣờng ngôi vị cao nhất thế giới cho tòa tháp Burj ở Dubai, Tiểu vƣơng quốc Arập thống nhất. Tháp Burj do hãng kiến trúc Mỹ thiết kế cao tới 800 m với 160 tầng dùng làm khách sạn, siêu thị, văn phòng cho thuê và căn hộ sang trọng. Taipei 101 cao nhất của Châu Á cũng sẽ bị một tòa nhà khác ở Châu Á hoàn thành vào năm 2010 hoặc 2011 vƣợt mặt.

Đó là tháp Thiên niên kỷ ở thành phố cảng Busan (Hàn Quốc) với chiều cao 560 m. Ngày nay, thành phố nào may mắn mới giữ đƣợc kỷ lục trong hơn nửa thập kỷ. Tháp đôi Petronas (Kuala lumpur) hoàn thành năm 1998 đã bị tháp Taipei 101 vƣợt qua năm 2004. Tuy nhiên, Tháp Taipei 101 chỉ giữ đƣợc kỷ lục trong 4 năm bởi tháp Burj (Dubai) đã hoàn thành và đƣa vào sử dụng.

Chiều cao các tòa nhà nổi tiếng trên thế giới. Việc đua nhau xây các tòa nhà chọc trời còn chứng tỏ tiềm lực kinh tế của các quốc gia và vùng lãnh thổ. Thành phố công nghiệp Thƣợng Hải (Trung Quốc) từ -5- những năm 1990 đã đƣợc ví nhƣ Manhattan của Châu Á với hàng loạt tòa nhà cao chót vót.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ