Giáo trình Hình học Sơ cấp - TS. Nguyễn Thị Thanh Vân (Trường Đại học Hải Phòng)

Tải trọn bộ giáo trình Hình học sơ cấp của Đại học Hải Phòng. Nội dung gồm 4 chương: Cơ sở hình học, Đa giác, Phép biến hình, Quỹ tích và Dựng hình.

Trường đại học

Đại học Hải Phòng

Chuyên ngành

Hình học sơ cấp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2025

103
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Giáo trình Hình học Sơ cấp Đại học Hải Phòng

Giáo trình Hình học Sơ cấp được biên soạn bởi TS. Nguyễn Thị Thanh Vân và Th.S Lê Thị Hà Đông từ Khoa Toán và Khoa học tự nhiên tại Đại học Hải Phòng. Đây là tài liệu học thuật toàn diện dành cho sinh viên ngành sư phạm toán và các chuyên ngành liên quan. Giáo trình được xây dựng theo chương trình giảng dạy tiêu chuẩn, kết hợp giữa lý thuyết và ứng dụng thực tiễn. Nội dung được trình bày một cách khoa học, logic và hệ thống, giúp người học nắm bắt sâu sắc các kiến thức cơ bản và nâng cao của hình học. Qua đó, sinh viên sẽ có khả năng giảng dạy hình học phổ thông một cách đúng đắn, chính xác và hiệu quả trong tương lai.

1.1. Đối tượng và mục tiêu học tập

Giáo trình hướng tới sinh viên sư phạm toán, nhà giáo dục và những ai muốn nâng cao kiến thức về hình học. Mục tiêu chính là giúp người học hiểu rõ bản chất của các kiến thức hình học, từ đó có thể trình bày một cách chính xác và khoa học khi dạy học phổ thông. Giáo trình cung cấp nền tảng lý thuyết vững chắc cho việc giải quyết các bài toán hình học phức tạp.

1.2. Đặc điểm và ưu điểm của tài liệu

Tài liệu này nổi bật với cách trình bày theo phương pháp tiên đề, một phương pháp cổ điển được sáng tạo bởi Euclide. Giáo trình giải thích rõ ràng các khái niệm cơ bản, hệ tiên đề và các định lý hình học. Mỗi nội dung được minh họa bằng ví dụ cụ thể, bài tập thực hành và hướng dẫn giải chi tiết.

II. Cơ sở Hình học và Phương pháp Tiên đề

Chương 1: Cơ sở Hình học là nền tảng của toàn bộ giáo trình, giới thiệu phương pháp tiên đề - một phương pháp xây dựng lý thuyết toán học được sáng tạo từ thế kỷ III trước Công nguyên. Phương pháp này bao gồm ba bước chính: cung cấp các khái niệm cơ bản không được định nghĩa, thiết lập hệ tiên đề, và suy luận logic để chứng minh các kết quả. Giáo trình trình bày chi tiết các hệ tiên đề Hilbert, hệ tiên đề Weyl, hệ tiên đề Pogogelovhệ tiên đề hình học phổ thông Việt Nam. Điều này giúp sinh viên hiểu rõ sự khác biệt và tương đồng giữa các hệ tiên đề khác nhau.

2.1. Phương pháp Tiên đề và Mệnh đề

Phương pháp tiên đề bắt đầu từ các mệnh đề cơ bản - những khái niệm đầu tiên không cần chứng minh. Một tiên đề là mệnh đề được thừa nhận là đúng. Hệ tiên đề phải thỏa mãn các yêu cầu như tính phi mâu thuẫn, tính độc lậptính đầy đủ. Qua phương pháp này, mọi kết quả khác được chứng minh bằng suy luận logic từ các tiên đề đã cho.

2.2. Các hệ Tiên đề Hình học

Giáo trình so sánh và phân tích hệ tiên đề Hilbert (gồm 20 tiên đề), hệ tiên đề Weyl (dựa trên vector), hệ tiên đề Pogogelov (tinh giản hơn), và hệ tiên đề hình học phổ thông Việt Nam. Mỗi hệ tiên đề có các đặc điểm riêng, phù hợp với các mục đích giảng dạy khác nhau trong giáo dục toán học.

III. Các Chương Nội dung Chính của Giáo trình

Giáo trình Hình học Sơ cấp gồm bốn chương chính, mỗi chương tập trung vào một lĩnh vực quan trọng của hình học. Chương 2 đề cập đến đa giác và đa diện, bao gồm công thức tính diện tích các hình phẳng như hình tam giác, hình vuông, hình chữ nhật, và các đa giác phức tạp hơn. Chương 3 trình bày chi tiết về phép biến hình trong mặt phẳng: phép đẳng cự, phép đồng dạng, phép nghịch đảo và ứng dụng của chúng trong giải toán. Chương 4 tập trung vào hai dạng bài toán quan trọng: bài toán quỹ tíchbài toán dựng hình. Mỗi chương đi kèm với bài tập thực hành chi tiết, giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng.

3.1. Đa giác Đa diện và Diện tích

Chương 2 cung cấp các định nghĩa chính xác về đa giácđa diện, phân biệt rõ ràng điểm trongđiểm ngoài. Giáo trình trình bày công thức tính diện tích một cách khoa học, không chỉ dựa vào trực quan. Các bài tập yêu cầu tính toán thể tích và giải các bài toán liên quan đến các hình không gian.

3.2. Phép biến hình và Ứng dụng

Chương 3 giới thiệu các phép biến hình như phép tịnh tiến, phép quay, phép đối xứng (phép đẳng cự), và phép đồng dạng. Đặc biệt, phép nghịch đảo trong mặt phẳng được trình bày chi tiết. Giáo trình hướng dẫn ứng dụng phép biến hình giải toán phổ thông, giúp sinh viên tìm ra những cách giải sáng tạo và hiệu quả.

3.3. Quỹ tích và Bài toán Dựng hình

Chương 4 chuyên sâu vào bài toán quỹ tích (tập hợp các điểm thỏa điều kiện cho trước) và bài toán dựng hình (dựng hình chỉ bằng thước và compa). Giáo trình giới thiệu phương pháp giải tổng quát để xử lý các lớp bài toán tương tự, hỗ trợ sinh viên trong định hướng giải pháp và giảng dạy sau này.

IV. Phương pháp Giảng dạy và Ứng dụng Thực tiễn

Giáo trình Hình học Sơ cấp không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn hướng tới ứng dụng thực tiễn trong giảng dạy phổ thông. Mỗi khái niệm được định nghĩa lại một cách chính xác khoa học, khác với cách trình bày trực quan trong sách giáo khoa phổ thông. Giáo trình giải thích những đặc điểm của sách giáo khoa hình học phổ thông Việt Nam và cách các khái niệm được định nghĩa trong sách giáo khoa. Sinh viên sẽ hiểu được bản chất sâu sắc của các kiến thức, từ đó có thể trình bày một cách logic, hệ thống và chính xác khi giảng dạy. Việc nắm vững các phương pháp này sẽ giúp nhà giáo nâng cao chất lượng giáo dục toán học và phát triển tư duy logic cho học sinh.

4.1. Kết nối lý thuyết và thực hành

Giáo trình cân bằng giữa lý thuyết toán học chặt chẽứng dụng giảng dạy thực tiễn. Mỗi bài tập không chỉ yêu cầu tính toán mà còn yêu cầu hiểu sâu sắc các khái niệm và khả năng giải thích cho học sinh. Phương pháp này giúp sinh viên trở thành giáo viên tốt, có khả năng dạy học sáng tạo.

4.2. Hỗ trợ học tập và Tài liệu tham khảo

Cuốn giáo trình bao gồm bài tập chương chi tiết ở mỗi phần, được thiết kế để rèn luyện kỹ năngkiểm tra sự hiểu biết. Cuối giáo trình là danh sách tài liệu tham khảo toàn diện, cho phép sinh viên tìm hiểu sâu hơn các vấn đề mà họ quan tâm. Nhóm tác giả luôn sẵn sàng nhận góp ý để cải thiện giáo trình.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ HÌNH HỌC 1. Mệnh đề Trong logic mệnh đề, mệnh đề là một khái niệm cơ bản không được định nghĩa. Tất cả những câu phản ánh đúng hay sai một thực tế khách quan đều được coi là những mệnh đề. Ta gán cho mệnh đề phản ánh đúng giá trị bằng 1, mệnh đề phản ánh sai giá trị bằng 0.

Các giá trị 1, 0 gọi là giá trị chân lý của mệnh đề. Tiên đề Định nghĩa 1. Tiên đề là một mệnh đề được thừa nhận là đúng. Phương pháp tiên đề Phương pháp tiên đề đã được Euclide - nhà toán học cổ Hy Lạp phát hiện và sử dụng đầu tiên khi trình bày hình học sơ cấp trong tác phẩm "Cơ bản" của mình từ thế kỷ III trước Công nguyên.

Phương pháp tiên đề là phương pháp xây dựng lý thuyết toán học được thực hiện theo quy trình sau: - Cung cấp các khái niệm cơ bản, là những khái niệm đầu tiên, không định nghĩa. Các khái niệm cơ bản bao gồm các đối tượng cơ bản và các quan hệ cơ bản. - Cung cấp hệ tiên đề. - Trình bày các kết quả thu được từ các khái niệm cơ bản và hệ tiên đề, cùng với các hệ quả của nó bằng các phép suy luận logic.

Tất cả các khái niệm không cơ bản phải được định nghĩa thông qua khái niệm cơ bản và quan hệ cơ bản cùng các kết quả trước nó.1: Lý thuyết nhóm là một lý thuyết toán học được xây dựng theo phương pháp tiên đề, cụ thể như sau: - Khái niệm cơ bản bao gồm: Tập hợp và phép toán * trên tập hợp. - Hệ tiên đề gồm 3 tiên đề: (1) Phép toán * có tính chất kết hợp, tức là (a*b)*c = a*(b*c). (2) Tồn tại phần tử e sao cho a*e = e*a = a. (3) Tồn tại phần tử nghịch đảo đối với phép toán *, tức là với mọi phần tử a, tồn tại phần tử b sao cho a*b = e.

4 - Tiếp đến là tất cả các định lý nhận được bằng suy luận logic từ các yếu tố đã biết, khái niệm khác được định nghĩa thông qua các khái niệm đã biết. Tương tự, Lý thuyết modul, Hình học Affine và Euclide… và hầu hết các lý thuyết toán học đều được xây dựng theo phương pháp tiên đề. Mô hình của hệ tiên đề Định nghĩa 1.2: Tập hợp H khác rỗng gọi là một mô hình của hệ tiên đề K nếu trên H mọi tiên đề của K đều là một mệnh đề đúng.2: Mỗi nhóm bất kỳ là một mô hình của Lý thuyết nhóm, chẳng hạn tập các số hữu tỉ Q, tập các số thực R đều là mô hình của Lý thuyết nhóm. Chú ý: Mỗi hệ tiên đề có thể có nhiều mô hình khác nhau.

Yêu cầu của một hệ tiên đề Tiên đề là những mệnh đề công nhận là đúng, không chứng minh. để đảm bảo giá trị của lý thuyết toán học, không phải một tập các mệnh đề nào cũng có thể sử dụng là một hệ tiên đề cho nó. Hệ tiên đề cần đạt các yêu cầu sau: 1. Tính phi mâu thuẫn của hệ tiên đề Định nghĩa 1.3 Hệ tiên đề K gọi là phi mâu thuẫn nếu từ K và các kết quả suy ra từ K bằng suy luận logic không suy ra hai kết quả trái ngược nhau.

Đây là điều kiện tiên quyết của một hệ tiên đề. Điều kiện này giúp cho lý thuyết toán học không mâu thuẫn và có ý nghĩa.1 Một hệ tiên đề là phi mâu thuẫn nếu tồn tại một mô hình của hệ tiên đề đó. Xét hệ tiên đề sau về khái niệm cơ bản bao gồm đối tượng cơ bản là “điểm”, “đường thẳng”, quan hệ cơ bản là “điểm thuộc đường thẳng”. Hệ tiên đề K gồm 3 tiên đề: K1: Qua hai điềm có duy nhất một đường thẳng.

K2: Hai đường thẳng khác nhau có duy nhất một điểm chung. 5 K3: Có ít nhất 4 điểm trong đó không có 3 điểm nào thuộc cùng một đường thẳng. Để chứng minh hệ tiên đề là phi mâu thuẫn, ta có thể xây dựng một mô hình, chẳng hạn là hình tứ diện ABCD, với A, B, C, D là các điểm, các cạnh của tứ diện là 6 đường thẳng. Ta nhận thấy, các tiên đề của hệ K đều đúng trên ABCD.

Do đó tứ diện ABCD là một mô hình của hệ tiên đề K, hay K là một hệ tiên đề phi mâu thuẫn. Tính độc lập của hệ tiên đề Định nghĩa 1. Tiên đề a của hệ tiên đề K gọi là độc lập với K\ a tiên đề còn lại nếu nó không là hệ quả của K\a tiên đề đó. Hệ tiên đề K gọi là độc lập nếu mọi tiên đề của K đều độc lập.

Hệ tiên đề độc lập là hệ tiên đề tối thiểu mà lý thuyết toán học cần có để xây dựng. Tiên đề a của hệ tiên đề K độc lập với các tiên đề của K nếu tồn tại một mô hình của K\a tiên đề mà trên đó a không thỏa mãn. Quay lại hệ tiên đề K trên, ta có tiên đề K1 độc lập với các tiên đề còn lại vì có hình tứ diện ABCD không có cạnh AB là một mô hình của K2 và K3 nhưng không thỏa mãn K1. Tính đầy đủ của hệ tiên đề Định nghĩa 1.

Hệ tiên đề gọi là đầy đủ nếu có thể xác định được tính đúng sai của một kết quả bất kỳ suy ra từ hệ tiên đề đó bằng suy luận logic. Tính đầy đủ của hệ tiên đề giúp lý thuyết toán học có đủ căn cứ trong quá trình lập luận xây dựng lý thuyết đó. Hệ tiên đề đầy đủ khi mọi mô hình của nó đều đẳng cấu, tức là có một song ánh từ mô hình này tới mô hình kia. Hệ tiên đề Hilbert của hình học Euclide 1.

Vài nét lịch sử David Hilbert (1862–1943), nhà toán học người Đức, đã có đóng góp quan trọng trong việc xây dựng nền tảng hình học thông qua việc phát triển hệ tiên đề cho Hình học Euclide. Năm 1899, Hilbert công bố tác phẩm Grundlagen der Geometrie 6 (Nền tảng của Hình học), trong đó ông trình bày một hệ thống tiên đề chặt chẽ và đầy đủ cho Hình học Euclide. Hệ tiên đề này được xây dựng dựa trên sáu khái niệm cơ bản chưa được định nghĩa: điểm, đường thẳng, mặt phẳng, quan hệ “thuộc", quan hệ "ở giữa" và quan hệ "bằng". Hilbert đã phân loại các tiên đề thành năm nhóm: tiên đề về sự liên thuộc, về thứ tự, về toàn đẳng, về song song và về liên tục.

Cách tiếp cận này giúp loại bỏ những thiếu sót trong các hệ tiên đề trước đó của Euclide và Pasch, đồng thời khẳng định tính chặt chẽ và độc lập của các tiên đề trong Hình học Euclide. Công trình của Hilbert đã có ảnh hưởng sâu rộng trong việc phát triển phương pháp tiên đề trong toán học, không chỉ trong Hình học mà còn trong các lĩnh vực khác. Hilbert đã nhận giải thưởng Lobachevsky vào năm 1903. Giải thưởng này được trao bởi Hội Toán học Kazan để vinh danh những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực toán học.

Sau đó, phương pháp tiên đề trở nên thịnh hành và xuất hiện nhiều hệ tiên đề khác của hình học Euclide. Nhiều công trình khoa học khác về cơ sở hình học đã bổ sung, tạo ra nhiều hệ tiên đề tương đương với hệ tiên đề Hilbert như Hệ tiên đề Porogelov hay Hệ tiên đề Wayle. Hệ tiên đề Hilbert Các khái niệm cơ bản gồm các đối tượng cơ bản là “điểm”, “đường thẳng”, “mặt phẳng” và các quan hệ cơ bản là “thuộc”, “ở giữa”, “bằng”. Hệ tiên đề được chi thành 5 nhóm với 20 tiên đề.

Nhóm I là nhóm tiên đề “liên thuộc” chứa 8 tiên đề. Nhóm II là nhóm tiên đề về “thứ tự” chứa 4 tiên đề. Nhóm III là nhóm tiên đề về “bằng nhau” chứa 5 tiên đề. Nhóm IV là nhóm tiên đề về “liên tục” chứa 2 tiên đề.

Nhóm V là nhóm tiên đề về “song song” chứa 1 tiên đề. Nhóm I – Các tiên đề về liên thuộc Nhóm tiên đề này mô tả quan hệ cơ bản: “Thuộc” hay “đi qua”. Với 2 điểm bất kỳ tồn tại đường thẳng đi qua. Với 2 điểm phân biệt có không quá một đường thẳng đi qua.

Mỗi đường thẳng có ít nhất 2 điểm. Có ít nhất 3 điểm không cùng thuộc một đường thẳng. Cho bất cứ 3 điểm bao giờ cũng có một mặt phẳng thuộc mỗi điểm đó. Mỗi mặt phẳng thuộc ít nhất một điểm.

Cho bất cứ 3 điểm nào không thuộc cùng một đường thẳng, không có quá một mặt phẳng thuộc mỗi điểm đó. Nếu hai điểm A,B thuộc đường thẳng a, đồng thời thuộc mặt phẳng α thì mọi điểm khác của a cũng thuộc α. Nếu hai mặt phẳng cùng thuộc một điểm thì chúng sẽ cùng thuộc ít nhất một điểm thứ hai. Có ít nhất 4 điểm không cùng thuộc một mặt phẳng.

Một số định nghĩa và định lý suy ra trực tiếp từ nhóm tiên đề I. Hai đường thẳng phân biệt có nhiều nhất là một điểm chung. Nếu mọi điểm thuộc đường thẳng a đều thuộc mặt phẳng (P) thì đường thẳng a gọi là thuộc mặt phẳng (P) hoặc mặt phẳng (P) thuộc đường thẳng a. Một mặt phẳng và một đường thẳng không thuộc mặt phẳng đó có nhiều nhất là một điểm chung.

Nếu hai mặt phẳng phân biệt có một điểm chung thì chúng có một đường thẳng chung chứa tất cả các điểm chung của hai mặt phẳng. Hai đường thẳng gọi là cắt nhau nếu có 1 điểm thuộc cả hai đường thẳng đó, điểm chung đó gọi là giao điểm của hai đường thẳng. Đường thẳng và mặt phẳng gọi là cắt nhau nếu có duy nhất một điểm thuộc cả đường thẳng và mặt phẳng. Điểm chung đó gọi là giao điểm của đường thẳng và mặt phẳng.

Hai mặt phẳng gọi là cắt nhau nếu có một đường thẳng chung. Đường thẳng chung đó gọi là giao tuyến của hai mặt phẳng. Qua một đường thẳng và một điểm không thuộc đường thẳng hoặc qua hai đường thẳng cắt nhau bao giờ cũng có một và chỉ một mặt phẳng. Mỗi mặt phẳng chứa ít nhất 3 điểm không thẳng hàng.

Chú ý: - Chỉ có tương quan “thuộc” giữa điểm và đường thẳng, giữa điểm với mặt phẳng là tương quan cơ bản, còn các tương quan khác đều được định nghĩa. - Nhóm I chỉ nêu ra những yêu cầu tối thiểu đủ để lí luận khi chứng minh các định lý. Chẳng hạn, bằng trực giác ta có thể nhận biết là trên một đường thẳng hay một mặt phẳng có vô số điểm nhưng tiên đề I3 chỉ công nhận trên một đường thẳng có ít nhất hai điểm và tiên đề I4 chỉ công nhận trên một mặt phẳng có ít nhất một điểm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ