Chương Š DOT BIEN VA ỨNG DỤNG TRONG CHON GIONG CAY TRONG 1. KHAINIEM VA VAITRO CUA DOT BIEN TRONG CHON GIONG Đột biến là sự thay đổi đột ngột về vật chất di truyền trong tế bào sinh vật. Đột biến có thê xảy ra ở gen hoặc ở nhiễm sắc thẻ. Đột biến là một hiện tượng thường gặp trong tự nhiên, nhưng có thể do con người tạo ra.
Quá trình hình thành và phát triển của thế giới sinh vật đa dạng và phong phú như hiện nay đều có nguồn gốc từ các biến dị tự nhiên và nhân tạo. Theo Darwin thì biến dị là thuộc tính của tất cả các loài sinh vật, trong đó biến dị di truyền là động lực của tiến hóa. Nhờ có biến di di truyén mà các loài mới, các dạng mới được hình thành, thành phần của loài ngày một đa dạng và phong phú. Trong sinh học ngày nay chia ra hai loại biến dị: Biến dị di truyền và biến dị không di truyền.
Những biến đổi tính chất, tính trạng của cơ thẻ có thê kèm theo những biến đôi về gen và các cấu tạo di truyền khác của tế bào. Những biến đổi đó được gọi là đột biến. Đột biến xuất hiện một cách đột ngột trong các tế bào riêng biệt và được giữ lại qua nhiêu thế hệ. Những biến dị di truyền là những biến đôi về dạng gen của cơ thẻ.
Những biến đôi đột biến nhất định có liên hệ mật thiết với sự hình thành tế bào sinh dục và tế bào thường. Sự khác nhau cơ bản 151 https://tieulun.org giữa đột biến và sự thay đổi dạng hình là ở chỗ đột biến có thê giữ lại qua hàng loạt các thế hệ không phụ thuộc vào môi trường. Điều đó nói lên rằng sự xuất hiện các đột biến liên quan với sự thay đôi cầu tạo tế bào - nhiễm sắc thể. Để kiểu gen được biêu hiện ra dạng hình cần phải có yếu tố tác động môi trường bên ngoài.
Những biến dị di truyền hay bién di kiểu gen là một điều kiện rất cần thiết cho quá trình tiến hóa, nó cung cấp vật liệu cho ngành chọn giống. Còn biến dị không di truyền hay biến dị kiêu hình làm cho cơ thẻ thêm bền vững và cũng là một dạng rất quan trọng đối với tiền hóa. Đột biến giúp tạo ra các nguồn biến dị phong phú: nhờ áp dụng phương pháp này có thẻ tăng nguồn biến dị lên nhiều lần, trong đó có nhiều biến dị chưa hề có trong tự nhiên. Đột biến có khả năng tạo giống nhanh vì đời sau dé ôn định; không phân ly tính trạng như phương pháp lai.
Đột biến chỉ xảy ra ở một gen, không phá vỡ toàn bộ kiểu gen của bố mẹ. Vì vậy, phương pháp đột biến có thê cải tiến các tính trạng riêng biệt dễ có hiệu quả hơn phương pháp lai hữu tính. Đột biến gen có ý nghĩa rất lớn trong chọn giống, nó làm tăng tỷ lệ các biến dị của sinh vật từ hàng ngàn đến hàng vạn lần, có nhiều biến dị không có trong tự nhiên. Do tân số đột biến nhân tạo rất cao (10 - 2 - 10 - 3) nên người ta sử dụng đề tạo ra giống mới.
Đột biến có thể tạo ra các giống bat dục đẻ sử dụng trong ưu the lai. Dét bién cd thé tao ra gidng cay trong có năng suất cao, phâm chất tốt, chông chịu tốt. CÁC TÁC NHÂN GÂY ĐỘT BIẾN 2. Cơ sở lý luận của phương pháp Sinh vật là do các vật chất hữu cơ và vô cơ tạo thành, được cấu tạo từ các nguyên tử và phân tử.
Về cấu tạo: nguyên tử có hạt nhân mang điện tích dương và xung quanh mang điện tích âm. Số điện tích âm và dương trong nguyên tử thường cân bằng. Khi chiếu xạ các tỉa x, a, B, y,. vao co thé sinh vật sẽ làm mất đi một số điện tử; dẫn đến hiện tượng mắt cân bằng và nguyên tử mang điện tích dương.
Sự tác dụng các chất phóng xạ lên vật chất sống là bước đầu tiên của quá trình lý hóa; quá trình này xảy ra trong một thời gian cho đến khi có sự cấu tạo lại phân tử, làm thay đổi các quá trình sinh hóa và cuối cùng là gây nên đột biến gen hay sự gây đoạn nhiễm sắc thê. Bước quan trọng nhất trong quá trình đó là sự phân hủy nước - một chất cơ bản của cơ thê sống. Người ta đã chứng minh rằng tia phóng xạ đã phân hủy nước đến H;O;, H;O; có thê tạo thành bằng 2 cách hoặc có mặt của O; hoặc không. Ví dụ: OH* + OH* = H;O; hay H;O + H;O = H;+ H;O;.
Các nguyên từ ion hóa sẽ làm cho các phân tử cầu tạo nên cơ thẻ sinh vật như DNA, protein có những biến đổi về hóa học. Nếu biến đôi hóa học xảy ra trên đơn vị gen thì gen có thê phát sinh đột biến. Khi có tác dụng của phóng xạ thường là làm thay đôi bản chất bên trong của vật chất nghiên cứu và do đó mà làm thay đôi tính chất di truyền của vật thê. Thường những đột biến do phóng xạ gây nên đều là những đột biến tới hạn hay đột biến làm giảm sức sống.
Những đột biến này có thê là trội và lặn. Những đột biến trội có thê phát hiện ngay ở thế hệ đầu tiên, còn những đột biến lặn thì đến F, F; mới phát hiện được. Ngoài tia phóng xạ ra trong các công trình nghiên cứu người ta còn dùng tia tử ngoại. Tia tử ngoại có thể dùng đẻ chiếu vào mọi loại tế bào đê gây đột biến.
Tan số đột biến phụ thuộc vào liều lượng phóng xạ; nhưng chỉ đến 153 https://tieulun.org một mức độ nhất định rồi thì liều lượng gần như không có tác dụng nữa. Đặc biệt, là hiệu quả tác dụng của tỉa tử ngoại phụ thuộc rất lớn vào độ dài của bước sóng. Bước sóng trong khoảng 2500 đến 2800 A là có hiệu quả tác dụng lớn nhất. Các tác nhân vật lý Trong các công trình nghiên cứu di truyền hiện đại người ta thường dùng các nguồn phóng xạ khác nhau.
Hiện nay có gần 40 loại tia phóng xạ, có thể kể đến như sau: - Điện tử (electron) hạt có khói lượng lúc yên nh mạ = 9% x 10 gam, mang điện tử âm = 4,8.10''° đơn vị điện CGSE. - Pozitron khối lượng bằng electron, mang điện tích dương. - Mezon: Gồm tập hợp hàng chục hạt có tính chất khác nhau. Khối lượng 100 -1000 lần khối lượng electron.
- Pozitron: Hạt có khối lượng bằng 1832 electron mang một điện tử dương. - Nơtrôn: Khối lượng bằng 1836 khối lượng electron không mang điện tích. - Hạt ơ: là nhân của nguyên tử hely cé cau tao tir 2 proton và nơtrôn. Nó mang điện tích dương nên bị lệch về cực âm của điện trường.
Người ta thường dùng hạt này trong các công trình nghiên cứu sinh vật. - Tia gamma (y): Tia này không bị lệch trong điện trường, có độ dài sóng rất ngắn, sức đâm xuyên mạnh. Đơn vị đo năng lượng của hat la electron - von, | electron (eV) = 1,6.10”” đơn vị điện tích. Liều lượng phóng xạ: xác định bằng cách đo khả năng ion hóa của phóng xạ trong không khí, đơn vị là r (Rơnghen); r là khối lượng phóng xạ tạo ra trong l cm” không khí khô = 0,001293 g ở 0°C ap suat 760 mm Hg.org Năng lượng hấp thụ được đo bang rad: 1 rad = 100 erg/g.
Đơn vị đo hoạt tính phóng xạ là Curi là khối lượng của chất phóng xạ mà số phân hủy của nó trong 1 giây băng 3,7 x 1010 (1 Curi tương ứng với lượng phóng xạ l gam radium). Phương pháp xử lý Phương pháp xử lý tùy thuộc vào tính chất của các tia, liều lượng xử lý, đặc tính sinh lý của cây, thời gian xử lý và bộ phận xử lý. - Liều lượng xử lý: Để thu nhận được nhiều đột biến, nên dùng liều lượng phóng xạ cao. Gaul cho răng: liều lượng cao để cho sự sông sót trên đồng ruộng khoảng 10% thì việc thu nhận các đột biến càng có hiệu quả.
Tuy nhiên, nhiều công trình thử nghiệm không tán thành quan điêm này. Do vậy, ngày nay thường dùng ở liều lượng thấp hoặc trung bình. - Liều lượng tiêu chuẩn (tới hạn): là liều lượng mà ở thế hệ MI có từ 30 - 40 % cây sống sót. Liêu lượng tiêu chuân của phần lớn các cây trồng là từ 5 - 7 kr (đối với tia Rơn ghen).
- Tính chất các tia: Dùng tia X thường làm cho cây có sức sông hữu tính mạnh hơn tia y. Cac tia có mật độ điện ly lớn thường cho hiệu quả rõ hơn. - Thời kỳ xử lý: xử lý vào lúc hạt nảy mầm, cây con dễ có kết quả hơn so với xử lý ở thời kỳ hạt ngủ nghỉ và cây già vì lúc này hạt và cây ít mẫn cảm với các tia hơn. Trong chu kỳ phân chia tế bào, các giai đoạn phân chia khác nhau chịu ảnh hưởng của các tia cũng khác nhau.
Có tác giả cho rằng: xử lý lúc phân bào giảm nhiễm đến lúc túi phần nở dễ gây đột biến nhất. Có tác giả lại cho rằng, trước lúc tế bào mẹ phân chia hoặc lúc hạt phân chín xử lý sẽ cho hiệu quả nhất. - Vật liệu xử lý: có thê xử lý hạt phân, hạt giống, mầm, cành, củ, mô,. đê gây đột biên.org + Xử lý ở giai đoạn mạ và cây con: có thê sử dụng tia y và tia 1; xử lý giai đoạn cây trưởng thành ở “trường” y hoặc phòng y.
+ Hạt: là vật liệu xử lý thông dụng nhất cho cả 2 tác nhân vì máy lý do sau: Khả năng chỗng chịu cao với môi trường sinh lý không bình thường; Có thê sấy khô, ngâm nước, nhiệt độ lúc xử lý là có định: từ 18 - 25C. + Xử lý hạt phan: các dang hat phan cũng có thẻ xử lý với 2 loại tác nhân lý học và hóa học. + Các bộ phận của cây sinh sản sinh dưỡng: có thẻ xử lý bằng tia phóng xạ hoặc các chất hóa học ở các đỉnh chôi, mầm, nhánh. + Các sản phâm từ nuôi cay mô - tế bào: Dùng các tác nhân lý, hóa học để xử lý ở giai đoạn nuôi cấy mô - tế bào có tác dụng thúc đầy và phát triển nhanh việc nghiên cứu.
Từ việc xử lý tế bào, khảo nghiệm các thẻ đột biến, nhân nhanh chúng thành cây hoàn chỉnh. Gây đột biến bằng các tác nhân hóa học 2. Cơ sở lý luận của phương pháp Gen là một đoạn của phân tử DNA gồm có một số nucleotide, quyết định sự tổng hợp protein nhất định. Mã di truyền của sinh vật do các “bộ ba” nucleotide quyết định.