Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2011–2020, ngành sản xuất máy vi tính và linh kiện điện tử Việt Nam đã ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 28,6%, vượt xa mức tăng trưởng bình quân của nhóm 10 quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới. Thành tựu này đã đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ 12 toàn cầu về giá trị xuất khẩu ngành hàng điện tử vào năm 2020, đồng thời giữ vững vị trí thứ hai trong nhóm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của quốc gia. Theo các báo cáo kinh tế của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, ngành công nghiệp điện tử hiện tạo ra tỷ suất giá trị gia tăng cao gần gấp 2 lần so với ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, đóng vai trò đòn bẩy thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo nguồn thu ngân sách vững chắc.

Mặc dù quy mô kim ngạch gia tăng nhanh chóng, giá xuất khẩu bình quân của sản phẩm máy vi tính từ Việt Nam vẫn thấp hơn đáng kể so với mức giá trung bình của thị trường quốc tế. Thực trạng này phản ánh một nghịch lý cốt lõi: Việt Nam tham gia với sản lượng xuất khẩu rất lớn nhưng phần giá trị gia tăng thu về trên mỗi đơn vị sản phẩm lại ở mức khiêm tốn do chủ yếu tập trung vào các công đoạn lắp ráp thâm dụng lao động.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuỗi giá trị toàn cầu, phân tích kinh nghiệm thực tiễn từ Nhật Bản và Trung Quốc, từ đó đánh giá thực trạng tham gia của ngành máy vi tính và linh kiện điện tử Việt Nam giai đoạn 2016–2020. Nghiên cứu xác định các điểm nghẽn cản trở việc gia tăng hàm lượng nội địa, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong mạng lưới sản xuất quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết chuỗi giá trị của Michael Porter (1985) và khung phân tích chuỗi giá trị toàn cầu của Raphael Kaplinsky và Mike Morris (2000, 2002). Theo Michael Porter, chuỗi giá trị bao gồm chín hoạt động cơ bản được phân chia thành nhóm hoạt động chính (vận chuyển đầu vào, sản xuất, vận chuyển đầu ra, marketing, dịch vụ) và nhóm hoạt động bổ trợ (thu mua, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng). Kaplinsky và Morris mở rộng khái niệm này ra không gian quốc tế, xác định chuỗi giá trị toàn cầu là chuỗi các hoạt động liên kết xuyên biên giới từ khâu nghiên cứu phát triển, sở hữu trí tuệ, sản xuất đến phân phối và tái chế.

Khung lý thuyết quản trị chuỗi giá trị toàn cầu của Gary Gereffi (1999, 2005) được ứng dụng để làm rõ cơ chế điều phối thị trường thông qua 5 hình thức: chuỗi giá trị thị trường, mô-đun, quan hệ, cố định và phân cấp. Kết hợp với mô hình đường cong nụ cười (Smile Curve) được Diễn đàn Kinh tế Thế giới chuẩn hóa năm 2007, nghiên cứu chỉ ra rằng giá trị gia tăng phân bổ cao nhất ở hai đầu chuỗi gồm khâu nghiên cứu thiết kế (R&D) và khâu marketing phân phối thương hiệu, trong khi khâu sản xuất lắp ráp ở giữa chuỗi nhận được tỷ suất lợi nhuận thấp nhất. Ngoài ra, 4 quỹ đạo nâng cấp công nghiệp (nâng cấp quy trình, nâng cấp sản phẩm, nâng cấp chức năng và nâng cấp chuỗi) được sử dụng làm cơ sở đánh giá tiềm năng chuyển dịch giá trị của doanh nghiệp nội địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm bộ dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016–2020 được thu thập từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Viện Kinh tế Công nghiệp và Thương mại Hàn Quốc (KIET), cùng các báo cáo chuyên ngành từ IBISWorld và IHS Markit. Cỡ mẫu phân tích bao quát toàn bộ kim ngạch xuất nhập khẩu ngành hàng máy vi tính và linh kiện của Việt Nam trong 5 năm, kết hợp mẫu khảo sát định tính đối với 25 doanh nghiệp sản xuất phần cứng và công nghiệp hỗ trợ tại hai trung tâm công nghiệp lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích thống kê mô tả, so sánh định lượng và tổng hợp phân tích chuỗi giá trị. Việc lựa chọn phương pháp phân tích chuỗi giá trị dọc và ma trận so sánh quốc tế giúp bóc tách chi tiết cấu trúc chi phí của từng linh kiện vi mạch, bo mạch in và màn hình hiển thị. Cách tiếp cận này giúp làm rõ sự bất đối xứng quyền lực giữa các tập đoàn đa quốc gia và nhà cung ứng nội địa, đem lại cái nhìn toàn diện hơn so với các phương pháp đánh giá thương mại truyền thống chỉ dựa vào kim ngạch tổng thể.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cán cân thương mại ngành máy vi tính và linh kiện điện tử Việt Nam tăng trưởng nhanh nhưng phụ thuộc áp đảo vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chiếm hơn 90% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành trong giai đoạn 2016–2020. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch duy trì trên 20% mỗi năm, tuy nhiên tỷ lệ nội địa hóa thực tế của các doanh nghiệp thuần Việt chỉ dao động ở mức dưới 15%, chủ yếu cung ứng các chi tiết phụ trợ đơn giản như bao bì đóng gói hoặc linh kiện nhựa định hình.

Thứ hai, cấu trúc phân bổ giá trị trong chuỗi sản phẩm máy vi tính toàn cầu thể hiện tính tập trung hóa quyền lực rất cao. Năm tập đoàn sản xuất theo hợp đồng (ODM/EMS) hàng đầu thế giới đã kiểm soát tới 75% tổng lượng máy tính xách tay xuất xưởng toàn cầu (tương đương 131 triệu trên tổng số 172 triệu thiết bị trong một năm). Các cấu phần có hàm lượng công nghệ và giá trị cao nhất như vi mạch xử lý (IC), bộ nhớ bán dẫn và tấm nền màn hình (thị trường màn hình LCD đạt quy mô 85 tỷ USD so với 15 tỷ USD của công nghệ OLED trong giai đoạn khảo sát) hoàn toàn do các công ty đa quốc gia từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan nắm giữ.

Thứ ba, sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị hiện chỉ giới hạn ở mắt xích gia công lắp ráp thành phẩm (OEM) và chế tạo bảng mạch cơ bản, chịu sự chi phối chặt chẽ theo mô hình chuỗi giá trị cố định hoặc mô-đun. Điểm sáng thực tế là các đơn vị nghiên cứu trong nước đã bước đầu phát triển được sản phẩm công nghệ cao như chip vi xử lý SG-8V1 của ICDREC với kiến trúc 5 tầng pipeline, đạt tốc độ xử lý và dung lượng bộ nhớ cao gấp 4 lần so với một số dòng vi điều khiển nhập khẩu tương đương cùng mức giá thành rẻ hơn khoảng 30%, chứng minh tiềm năng nâng cấp chức năng thiết kế của kỹ sư trong nước.

Thứ tư, nghiên cứu so sánh quốc tế cho thấy các bài học điển hình: Nhật Bản thành công chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài theo mô hình đàn sếu bay kết hợp xử lý bền vững 370.000 tấn rác thải điện tử trong năm 2018 để thu hồi kim loại quý; trong khi Trung Quốc tận dụng quy mô thị trường nội địa đạt 6.049 tỷ USD vào năm 2020 và chiến lược đào tạo 3 triệu kỹ sư khoa học công nghệ để vươn lên làm chủ tiêu chuẩn kỹ thuật không dây và sản xuất thiết bị thương hiệu gốc (OBM).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến Việt Nam chưa thể thâm nhập sâu vào các khâu mang lại giá trị gia tăng cao bắt nguồn từ năng lực công nghệ nội sinh còn hạn chế, chi phí đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của các doanh nghiệp trong nước thường chiếm dưới 1% tổng doanh thu, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 5-10% của các tập đoàn quốc tế. Bên cạnh đó, các rào cản kỹ thuật nghiêm ngặt và sức mạnh đàm phán yếu khiến các nhà cung ứng vừa và nhỏ của Việt Nam khó ký kết được các hợp đồng cung ứng dài hạn trực tiếp với các hãng công nghệ lớn.

Các dữ liệu phân tích có thể được mô phỏng trực quan thông qua biểu đồ đường cong nụ cười thể hiện tỷ trọng giá trị gia tăng, trong đó khâu thiết kế vi mạch và phát triển phần mềm chiếm 35% giá trị, khâu tiếp thị và dịch vụ sau bán hàng chiếm 40% giá trị, trong khi khâu gia công cơ khí và lắp ráp tại Việt Nam chỉ thu về khoảng 5% đến 8% tổng giá trị sản phẩm xuất khẩu. Bảng ma trận so sánh nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu thành phẩm qua các năm cũng chỉ rõ việc nhập siêu linh kiện bán dẫn là nguyên nhân chính khiến thặng dư thương mại thuần túy của khu vực kinh tế trong nước còn thấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Chính phủ và Bộ Công Thương cần hoàn thiện khung thể chế thông qua việc ban hành gói ưu đãi tài khóa đặc thù, giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm đầu cho các dự án đầu tư vào khâu thiết kế vi mạch và phòng thí nghiệm R&D công nghệ cao trong giai đoạn 2022–2025. Đồng thời, cần nâng chỉ tiêu tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc đối với các dự án FDI lớn trong ngành điện tử lên mức tối thiểu 30% vào năm 2025 và 40% vào năm 2030 để kích hoạt chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp phụ trợ nội địa.

Thứ hai, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp cùng chính quyền các địa phương trọng điểm thiết lập 3 cụm liên kết ngành công nghiệp điện tử chuyên sâu tại khu vực phía Bắc và phía Nam trước năm 2026. Mô hình cụm công nghiệp tập trung cần tích hợp đồng bộ hệ thống hạ tầng logistics, trung tâm kiểm định chất lượng đạt chuẩn quốc tế và các vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao nhằm giảm thiểu chi phí giao dịch và rút ngắn thời gian giao hàng linh kiện trung gian.

Thứ ba, các doanh nghiệp sản xuất điện tử trong nước cần chủ động tái cơ cấu mô hình kinh doanh, cam kết trích lập tối thiểu 5% doanh thu hàng năm để đầu tư nâng cấp quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn tự động hóa và đào tạo kỹ thuật viên. Doanh nghiệp cần chuyển dịch từng bước từ phương thức gia công đơn thuần OEM sang tự chủ thiết kế ODM đối với các cụm linh kiện chuyên dụng, tận dụng lợi thế chi phí từ các sáng chế vi mạch nội địa để cung ứng cho thị trường thiết bị dân dụng trong nước trước khi mở rộng ra khu vực.

Thứ tư, Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam và Hiệp hội Thương mại Điện tử cần tăng cường vai trò đại diện kết nối, định kỳ tổ chức các chương trình kết nối giao thương B2B với mục tiêu hỗ trợ ít nhất 50 doanh nghiệp vừa và nhỏ gia nhập danh sách nhà cung ứng cấp 1 và cấp 2 của các tập đoàn xuyên quốc gia mỗi năm. Song song đó, các hiệp hội cần xây dựng khung tiêu chuẩn về kinh tế tuần hoàn, hỗ trợ doanh nghiệp triển khai dây chuyền thu hồi và tái chế rác thải linh kiện điện tử theo kinh nghiệm quốc tế nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu xanh sang thị trường châu Âu và Mỹ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà hoạch định chính sách tại các Bộ, ngành kinh tế và thương mại. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và số liệu định lượng chi tiết giúp xây dựng quy hoạch chiến lược phát triển ngành công nghiệp phần cứng, thiết kế các gói ưu đãi đầu tư có trọng tâm và hoàn thiện các quy định về tỷ lệ nội địa hóa trong các hiệp định thương mại tự do.

Nhóm thứ hai là các nhà quản trị doanh nghiệp và giám đốc sản xuất trong ngành công nghiệp điện tử và công nghiệp hỗ trợ. Công trình mang lại khung phân tích thực tế giúp doanh nghiệp định vị chính xác vị trí của mình trên chuỗi cung ứng, từ đó lựa chọn đúng lộ trình nâng cấp công nghệ, cắt giảm chi phí trung gian và nâng cao năng lực thương lượng hợp đồng với các đối tác toàn cầu.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và các nhà nghiên cứu chuyên sâu về Kinh tế quốc tế và Thương mại toàn cầu. Nghiên cứu đóng vai trò là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao, tích hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết chuỗi giá trị hiện đại của Michael Porter và Gary Gereffi với dữ liệu thực chứng của một ngành công nghiệp mũi nhọn tại nền kinh tế đang phát triển.

Nhóm thứ tư là các chuyên gia phân tích đầu tư và chuyên viên quản trị chuỗi cung ứng quốc tế. Nội dung luận văn hỗ trợ nhận diện các mắt xích có biên lợi nhuận cao, đánh giá xu hướng dịch chuyển dòng vốn FDI phần cứng và nhận diện các rủi ro gián đoạn nguồn cung linh kiện bán dẫn trên thị trường thế giới.

Câu hỏi thường gặp

Chuỗi giá trị toàn cầu ngành máy vi tính gồm những công đoạn cốt lõi nào? Chuỗi giá trị bao gồm sáu chức năng chính: nghiên cứu phát triển, thiết kế mẫu mã, cung ứng nguyên vật liệu thô, sản xuất linh kiện vi mạch bo mạch, lắp ráp hoàn thiện sản phẩm và hệ thống phân phối tiếp thị. Các khâu R&D và thiết kế vi mạch mang lại tỷ suất lợi nhuận cao nhất, trong khi khâu gia công lắp ráp đem lại giá trị gia tăng thấp nhất.

Vì sao xuất khẩu điện tử Việt Nam tăng trưởng cao nhưng giá trị gia tăng thực tế lại thấp? Nguyên nhân xuất phát từ việc hơn 90% kim ngạch xuất khẩu thuộc về khối doanh nghiệp FDI thực hiện gia công lắp ráp ở giai đoạn cuối của chuỗi. Doanh nghiệp trong nước chủ yếu cung ứng các chi tiết phụ trợ giản đơn với tỷ lệ nội địa hóa dưới 15%, còn hầu hết linh kiện giá trị cao như vi mạch và bộ nhớ đều phải nhập khẩu.

Việt Nam có thể học hỏi được kinh nghiệm gì từ chiến lược phát triển chuỗi giá trị của Trung Quốc? Việt Nam có thể áp dụng chiến lược kết hợp quy mô thị trường trong nước để thương mại hóa sản phẩm công nghệ, tập trung đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao và chủ động xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật nội địa. Điều này tạo nền tảng vững chắc giúp doanh nghiệp nâng cấp từ gia công thuần túy lên khâu tự chủ thiết kế và phân phối.

Khái niệm nâng cấp chức năng mang lại ý nghĩa chuyển đổi cụ thể nào cho doanh nghiệp? Nâng cấp chức năng là quá trình doanh nghiệp thay đổi tổ hợp hoạt động để đảm nhận các mắt xích có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi. Thay vì chỉ nhận đơn hàng gia công lắp ráp thành phẩm, doanh nghiệp chuyển dịch nguồn lực sang đảm nhận khâu thiết kế vi mạch, quản lý chất lượng chuỗi cung ứng và phát triển thương hiệu riêng.

Vấn đề bảo vệ môi trường và tái chế linh kiện điện tử được đặt ra như thế nào trong chuỗi giá trị? Sự phát triển của chuỗi giá trị phần cứng luôn đi kèm lượng rác thải điện tử khổng lồ chứa kim loại quý lẫn chất độc hại. Áp dụng kinh nghiệm từ Nhật Bản, việc xây dựng các nhà máy tái chế đạt chuẩn và ban hành quy định về thuế môi trường giúp doanh nghiệp vừa tiết kiệm nguyên liệu sản xuất, vừa đáp ứng tiêu chuẩn xanh trong thương mại quốc tế.

Kết luận

  • Xuất khẩu máy vi tính và linh kiện điện tử Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 28,6% hàng năm trong giai đoạn 2011–2020, vươn lên đứng thứ 12 thế giới nhưng vẫn đối mặt với bẫy giá trị gia tăng thấp.
  • Khung phân tích chuỗi giá trị toàn cầu đã chứng minh rõ sự bất đối xứng về lợi ích kinh tế, trong đó giá trị thặng dư lớn nhất thuộc về các khâu thiết kế vi mạch, phần mềm và quản trị thương hiệu.
  • Sự tham gia của các doanh nghiệp nội địa hiện vẫn ở mức sơ khởi, cần nhanh chóng vượt qua mắt xích gia công lắp ráp để tiến tới các công đoạn chế tạo linh kiện tinh vi và tích hợp hệ thống.
  • Hệ thống chính sách giai đoạn 2021–2030 cần tập trung vào ưu đãi thuế cho R&D, thành lập các cụm công nghiệp bán dẫn chuyên sâu và liên kết chặt chẽ mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ với các chuỗi cung ứng toàn cầu.
  • Các doanh nghiệp công nghệ trong nước cần quyết liệt chuyển đổi chiến lược sản xuất, gia tăng đầu tư vào đổi mới sáng tạo để từng bước làm chủ công nghệ và nâng tầm thương hiệu quốc gia trên thị trường quốc tế.