mở đầu - Đối với người dạy: Sử dụng phương pháp giảng giảng dạy tích cực (diễn giảng, vấn đáp, dạy học theo vấn đề); yêu cầu người học nhớ các khâu chuẩn bị. - Đối với người học: Chủ động đọc trước giáo trình trước buổi học Điều kiện thực hiện bài học - Phòng học chuyên môn hóa/nhà xưởng: Phòng học chuyên môn - Trang thiết bị máy móc: Máy chiếu và các thiết bị dạy học khác - Học liệu, dụng cụ, nguyên vật liệu: Chương trình môn học, giáo trình, tài liệu tham khảo, giáo án, phim ảnh, và các tài liệu liên quan. - Các điều kiện khác: Không có Kiểm tra và đánh giá bài học - Nội dung: 19 Kiến thức: Kiểm tra và đánh giá tất cả nội dung đã nêu trong mục tiêu kiến thức Kỹ năng: Đánh giá tất cả nội dung đã nêu trong mục tiêu kĩ năng. Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Trong quá trình học tập, người học cần: + Nghiên cứu bài trước khi đến lớp + Chuẩn bị đầy đủ tài liệu học tập.
+ Tham gia đầy đủ thời lượng môn học. + Nghiêm túc trong quá trình học tập. - Phương pháp: Điểm kiểm tra thường xuyên: 1 điểm kiểm tra (hình thức: hỏi miệng) Kiểm tra định kỳ lý thuyết: không có Kiểm tra định kỳ thực hành: không có Nội dung chính: 1. Các kiểu liên kết khi hàn ống Vị trí hàn ống 1G – 6G.
20 Vị trí 5G Vị trí 6G. Chuẩn bị thiết bị, dụng cụ, vật liệu hàn Các phụ tùng để hàn hồ quang tay. Hàn hồ quang tay cần có các dụng cụ chuyên dùng thường được cung cấp chung với máy hàn các dụng cụ bao gồm : - Dây điện hàn và dây nối mát. - Kìm hàn để kẹp điện cực.
- Búa gõ xỉ và bàn chải sắt. - Mặt nạ hàn với kính bảo vệ. - Tủ sấy que hàn. - Máy mài cầm tay … Ngoài các phụ tùng trên thợ hàn cần được trang bị quần áo bảo hộ đặc biệt cho thợ hàn thích hợp cho trong điều kiện làm việc có ánh hồ quang và sự bắn tóe của kim loại và độc hại của khói hàn.
Kìm hàn điện hồ quang tay. Hình III - 26 Kìm hàn. Kẹp này nối dây nối mát đến chi tiết hàn. Đây là bộ phận rất quan trọng nếu nối mát không tốt ( tiếp xúc ), hồ quang sẽ không ổn định và không cung cấp đủ nhiệt cho quá trình hàn, kẹp phải đảm bảo tiếp xúc điện tốt, dễ thao tác dễ sử dụng .3 Máy mài cầm tay.
Hình III -28 Máy mài cầm tay. Máy mài cầm tay là một trong những phụ tùng không thể thiếu được của thợ hàn, dùng để sửa chữa mép hàn và dùng để mài nối que ( đầu nối que hàn )… 2. Tủ sấy que hàn. 29 Tủ sấy que hàn di động Do que hàn luôn có xu hướng hấp thụ hơi ẩm, để đảm bảo chất lượng mối hàn que hàn cần được bảo quản thích hợp và có thể phải sấy lại trước khi sử dụng, do đó thợ hàn cần phải có tủ sấy cá nhân hay gọi là tủ sấy di động trong quá trình hàn.
Kỹ thuật hàn nối ống có vát mép ở vị trí hàn bằng 3. Chế độ hàn là tổng hợp các tính chất cơ bản của quá trình hàn để đảm bảo nhận được mối hàn có hình dáng, kích thước mong muốn. Đặc trưng cho chế độ hàn là: đường kính que hàn, cường độ dòng điện hàn, tốc độ hàn và điện thế hồ quang v. Đường kính que hàn.
Để nâng cao hiệu suất, có thể chọn que hàn có đường kính tương đối lớn. Nhưng hàn bằng que hàn có đường kính tương đối lớn dễ bị thành hình không tốt hoặc chưa ngấu và tăng thêm cường độ lao động của người thợ hàn, cho nên cần phải chọn chính xac đường kính que hàn. Đường kính que hàn to hay nhỏ, có liên quan đến mấy yếu tố sau đây: - Chiều dày của vật hàn: vật hàn có chiều dày tương đối lớn, nên chọn que hàn có đường kính tương đối lớn. - Loại đầu nối: Nối chồng mí, nối hình chữ T, nên chọn que hàn có đường kính tương đối lớn.
- Vị trí mối hàn: Đường kính que hàn khi hàn môí bằng, lớn hơn đường kính que hàn khi hàn các vị trí khác một ít. Đường kính que hàn khi hàn đứng không qua 5mm, khi hàn ngửa, hàn ngang không quá 4mm. Như vậy để tạo thành vùng nóng chảy tương đối nhỏ, giảm bớt kim loại nóng chảy nhỏ xuống dưới. - Thứ tự lớp hàn: Khi hàn mối hàn nhiều lớp, nếu lớp thứ nhất đã dùng que hàn có đường kính quá lớn, sẽ gây nên hiện tượng vì hồ quang dài quá mà không thể hàn ngấu được.
Vì vậy, khi hàn lớp thứ nhất của mối hàn nhiều lớp, nên chọn que hàn có đường kính từ 3 mm đến 4 mm, các lớp sau đó có thể căn cứ theo chiều dày của vật hàn để có thể chọn que hàn có đường kính lớn hơn. 23 - Trong thực tế hay dùng nhất là loại que hàn có đường kính từ 2. Đây là một thông số quan trọng được xác định dựa vào chiều dày chi tiết, vị trí mối hàn trong không gian, lớp hàn … loại liên kết: Giáp mối, ke góc … hoặc kích thước cạnh mối hàn … Có thể chọn đường kính que hàn dựa vào các yếu tố sau 3. Cường độ dòng điện hàn.
Khi hàn, việc nâng cao dòng điện hàn một cách thích đáng, có thể tăng nhanh tốc độ nóng chảy của que hàn, có lợi cho việc nâng cao hiệu suất. Dòng điện hàn đối với chất lượng mối hàn có những ảnh hưởng dưới đây: - Nếu dòng điện hàn lớn quá, dễ làm cho vật hàn hai bên bị khuyết cạnh, thậm chí bị cháy thủng, đồng thời, cấu tạo của kim loại cũng do nóng quá mà bị thay đổi. - Nếu dòng điện hàn nhỏ quá, thì kim loại vật hàn dự nhiệt không đầy đủ, dễ gây những khuyết tật như: Hàn chưa ngấu và lẫn xỉ, kết quả làm giảm cường độ cơ học của kết cấu hàn. Khi hàn phải căn cứ vào nhiều mặt để quyết định cường độ dòng điện hàn như: Loại que hàn, đường kính que hàn, chiều dày vật hàn, loại đầu mối, vị trí mối hàn, thứ tự lớp hàn, v.Nhưng điều chủ yếu là đường kính que hàn và vị trí que hàn.
Bằng phương pháp tính toán gần đúng, khi hàn thép ở vị trí hàn sấp có thể dùng công thức sau: I = ( + d)d (Ampe). , - Là hệ số thực nghiệm, khi hàn bằng que thép = 20 , = 6. d – Đường kính que hàn (mm). Có thể tính cường độ dòng điện hàn theo công thức thực nghiệm: I = kd (A) I – Cường độ dòng điện hàn (Ampe) k – Hệ số do tính chất que hàn quyết định, thường từ 0 đến 60.
d – Đường kính que hàn (mm) Cường độ dòng điện hàn được tính theo công thức trên, trong thực tế sản xuất vẫn còn chịu ảnh hưởng của một số nhân tố khác. Khi hàn mối hàn bằng, do cách đưa que hàn và khống chế kim loại chảy trong vùng nóng chảy tương đối dễ, cho nên có thể chọn cường độ dòng điện hàn tương đối lớn. Nhưng khi hàn ở vị trí khác để tránh kim loại chảy trong vùng nóng chảy ra ngoài, phải làm cho diện tích vùng nóng chảy nhỏ lại một ít. Thông thường cường độ dòng điện khi hàn đứng nhỏ hơn khi hàn bằng từ 10% đến 15% và khi hàn ngửa nhỏ hơn từ 15% đến 20%.
Điện thế hồ quang. Điện thế hồ quang do chiều dài hồ quang quyết định. Hồ quang dài thì điện thế cao, hồ quang ngắn điện thế thấp. Trong quá trình hàn, hồ quang không nên dài quá, nếu dài quá có những hiện tượng không tốt dưới đây: - Hồ quang cháy không ổn định, dễ bị lắc, sức nóng của hồ quang bị phân tán, kim loại nóng chảy bắn ra ngoài nhiều, lãng phí kim loại và điện.
24 - Độ sâu nóng chảy ít dễ sinh ra khuyết cạnh và khuyết tật khác. - Những thể khí có hại như nitơ, ôxy trong không khí dễ thấm vào làm mối hàn dễ sinh lỗ hơi. Do đo, nên sử dụng hồ quang ngắn dễ hàn, chiều dài của hồ quang không nên vượt quá đường kính que hàn. Chú ý : Chiều dài hồ quang Lhq đó là khoảng cách từ đấu mút que hàn tới mặt thoáng của vũng hàn ( bể hàn ) , người ta phân biệt ở chỗ: - Hồ quang bình thường : Nếu Lhq = 1.1 d ( d là đường kính lõi thép que hàn ( mm) - Hồ quang ngắn nếu : Lhq < 1.
- Hồ quang dài nếu : Lhq > 1.3 Kỹ thuật hàn: a) Góc độ đặt que hàn: Góc độ que hàn khi hàn bằng giáp mối. Hàn mối hàn góc b) Dao động que hàn: Trong quá trình hàn thường chuyển động của que hàn bao gồm một số chuyển động cơ bản nhất để hình thành và hoàn thành mối hàn có chất lượng cao Que hàn chuyển động theo chiều trục của que hàn (1) với tốc độ phù hợp với tốc độ nóng chảy của nó, để tạo ra chiều dài hồ quang không đổi suốt trong quá trình hàn và duy trì tính ổn định của hồ quang. Que hàn chuyển động theo chiều trục mối hàn (2) để hàn hết chiều dài mối hàn. Muốn đảm bảo chất lượng của mối hàn, que hàn phải đặt nghiêng theo hướng hàn một góc từ 75o đến 85o.
Chuyển động dao động ngang (3) để tạo ra chiều rộng mối hàn. Phạm vi dao động càng rộng thì bề rộng của mối hàn càng lớn. Bề rộng mối hàn thường không quá 2 đến 5 lần đường kính que hàn. - Phương pháp đưa que hàn hình đường thẳng.
Khi hàn bằng phương pháp đưa que hàn hình đường thẳng phải duy trì chiều dài hồ quang không đổi và chuyển động về hướng trước của chiều hàn, nhưng không được giao động ngang (Hình IV -59) 25 Phương pháp đưa que hàn hình đường thẳng. Do que hàn không dao động ngang, hồ quang tương đối ổn định, nên độ sâu nóng chảy tương đối lớn, nhưng chiều rộng mối hàn tương đối hẹp, thường không quá 1,5 lần đường kính que hàn, cho nên phương pháp này được dùng nhiều để hàn lớp thứ nhất của mối hàn nhiều lớp và khi hàn ghép những tấm thép dày từ 3 đến 5mm không vát cạnh và hàn mối hàn nhiều đường nhiều lớp. - Phương pháp đưa que hàn hình đường thẳng đi lại.