Chương I, Điều 3 của Luật Du lịch Việt Nam 2017: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.” - Theo Tổ chức Du lịch Thế giới: “Du lịch bao gồm tất cả những hoạt động của cá nhân đi, đến và lưu lại ngoài nơi ở thường xuyên trong thời gian không dài (hơn một năm) với những mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền hàng ngày” Tóm lại, du lịch là một khái niệm có nhiều cách tiếp cận xuất phát từ tính chất phong phú và sự phát triển của hoạt động du lịch. Chính vì vậy, tùy thuộc vào từng mục đích nghiên cứu mà có thể sử dụng các khái niệm đó một cách phù hợp. Khái niệm về khách du lịch Bản thân việc xây dựng khái niệm du khách là một vấn đề phức tạp. Mỗi nước có một khái niệm du khách khác nhau, theo những chuẩn mực khác nhau.
Điều đó gây khó khăn cho công tác thống kê, tổng hợp số liệu, so sánh, phân tích. Hơn nữa, điều đó gây khó khăn trong việc áp dụng công ước quốc tế cũng như hệ thống luật pháp trong nước để bảo vệ quyền lợi của dukhách. Chính vì vậy, các tổ chức quốc tế không ngừng nỗ lực xây dựng một khái niệm thống nhất về du khách, ít ra là du khách quốc tế. Nhìn chung, để xác định ai là khách du lịch? Phân biệt giữa khách du lịch và những người lữ hành khác phải dựa vào 3 tiêu thức: 10 - Mục đích chuyếnđi.
- Thời gian chuyếnđi. - Không gian chuyếnđi. Theo Chương II, Điều 10 của Luật Du lịch Việt Nam 2017: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến. Các loại khách du lịch + Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam.1: Khách du lịch nội địa + Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ( Inbount ) là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch.2: Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam + Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài ( Out bount) là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài.3: Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài * Những trường hợp sau đây được coi là khách du lịch quốc tế: - Đi vì lý do sức khoẻ, giải trí, giađình…; 12 - Đi tham gia hội nghị, hội thảo quốc tế, các đại hội thểthao…; - Tham gia chuyến du lịch vòng quanhbiển; - Những người đi với mục đích kinh doanh công vụ (tìm hiểu thị trường, ký kết hợpđồng…).
* Những trường hợp sau không được coi là khách du lịch quốc tế: - Những người đi sang nước khác để hành nghề, những người tham gia vào các hoạt động kinh doanh ở các nướcđến; - Những người nhậpcư; - Những du họcsinh; - Những dân cư vùng biên giới, cư trú ở một quốc gia và đi làm ở quốc giakhác; - Những người đi xuyên một quốc gia và không dừng lại. Tài nguyên du lịch Theo luật Du lịch Việt Nam 2017: Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa Đối với quốc gia, vùng, miền và các nhà làm du lịch thì điểm và khu du lịch được xem là nguồn lực, là một trong những nhân tố quan trọng góp phần cạnh tranh, khai thác nguồn khách và đem lại nguồn thu cho mình. Tuy nhiên giữa điểm du lịch và khu du lịch có những điểm khác biệt cần phải nhận thức giúp các nhà quản lý và các doanh nghiệp du lịch có chiến lược xây dựng, khai thác, phát triển, marketing phù hợp.
Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch. Khu du lịch: Là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịchtự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường.4 : Khu du lịch Núi Hàm Rồng Sapa – Lào Cai Kinh doanh tại điểm và khu du lịch bao gồm nhiều nhiều lĩnh vực khác nhau. Điều này xuất phát từ nhu cầu và đỏi hỏi chính đáng từ khách du lịch. Các sản phẩm, dịch vụ tại điểm và khu du lịch càng phong phú, độc đáo, chất lượng, giá cả hợp lý thì càng chiếm được cảm tình, tiêu dùng và quay lại của du khách.
Điều này đỏi hỏi những nhà quản lý, người kinh doanh tại điểm, khu du lịch cần có chính sách về sản phẩm cũng như giá hợp lý để “kích thích” khả năng tiêu dùng của khách du lịch. Nhìn chung các lĩnh vực kinh doanh tại điểm và khu du lịch gắn liền với việc đầu tư, bảo tồn, nâng cấp tài nguyên du lịch đã có, xây dựng kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp, phát triển và bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng bền vững. Tuyến du lịch Đây là khái niệm liên quan đến kinh doanh du lịch lữ hành. Từ những điểm, khu du lịch có sẵn tại các vùng, địa phương, quốc gia khác nhau khách du lịch hoặc thông qua các công ty lữ hành vạch ra cho mình những tuyến du lịch nhăm thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, và hiểu biết của mình.
Theo Luật Du lịch Việt Nam: Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không 14 1. Xúc tiến du lịch Theo Luật Du lịch Việt Nam: Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch. Du lịch bền vững Theo Luật Du lịch Việt Nam: Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai.8 Sản phẩm du lịch Là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH 2.
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ chuyến đi Các tác giả McIntosh, Goeldner và Ritchie đã sử dụng tiêu thức này để phân chia thành các loại hình du lịch như sau: * Du lịch quốc tế. Du lịch quốc tế (International Tourism): Là những chuyến du lịch mà nơi cư trú của khách du lịch và nơi đến du lịch thuộc hai quốc gia khác nhau. Chính vì vậy, du khách thường gặp phải ba cản trở chính của chuyến đi đó là: ngôn ngữ, tiền tệ và thủ tục đi lại. Cùng với dòng du khách, hình thức du lịch này tạo ra dòng chảy ngoại tệ giữa các quốc gia và do đó ảnh hưởng đến cán cân thanh toán của quốc gia.
Loại hình du lịch này được phân chia thành hai loại: - Du lịch quốc tế đến (du lịch quốc tế nhận khách - Inbound Tourism): Là hình thức du lịch của khách du lịch ngoại quốc đến một nước nào đó và tiêu ngoại tệ ở đó. Quốc gia nhận khách du lịch nhận được ngoại tệ do khách mang đến nên được coi là quốc gia xuất khẩu dulịch. - Du lịch ra nước ngoài (du lịch quốc tế gửi khách - Outbound Tourism): Là chuyến đi của một cư dân trong một nước đến một nước khác và tiêu tiền kiếm được ở đất nước của mình tại nước đó. Quốc gia gửi khách được gọi là quốc gia nhập khẩu du lịch.
* Du lịch trong nước. 15 Du lịch trong nước (Internal tourism): Là chuyến đi của những cư dân chỉ trong phạm vi quốc gia của họ. Chuyến đi của cư dân có thể với bất kỳ mục đích gì (ngoại trừ đi làm việc), đi đến bất cứ nơi nào trong quốc gia và thời gian dài hay ngắn tùy vào từng mụcđích. Căn cứ theo mục đích chuyến đi Mục đích chuyến đi là động lực thúc đẩy hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch của con người.
Do đó, cách phân loại này còn được gọi là căn cứ vào động cơ hoặc căn cứ vào nhu cầu. Theo Tiến sĩ Harssel, có 10 loại hình du lịch phổ biến theo cách phân chianày: * Du lịch thiên nhiên: Du lịch thiên nhiên là loại hình du lịch thu hút những người thích tận hưởng bầu không khí ngoài trời, thích thưởng thức phong cảnh đẹp và đời sống động thực vật hoang dã. Những người đi du lịch trong nhóm này muốn tìm đến vẻ đẹp và đời sống hoang sơ, hùng vĩ của rừng, núi, làng xóm. Ví dụ: Du lịch vườn quốc gia Cúc Phương; du lịch Phong Nha Kẽ Bàng… Hình 1.5 Động Phong Nha Kẻ Bàng * Du lịch văn hóa: Du lịch văn hóa là loại hình du lịch hấp dẫn những người mà mối quan tâm chủ yếu của họ là truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật.
Những du khách đi với mục đích này sẽ viếng thăm 16 các viện bảo tàng, nghỉ tại các quán trọ đồng quê, tham dự các lễ hội truyền thống và các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian của địaphương. Đây là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Ví dụ: Du lịch làng nghề, du lịch Đền Hùng.6: Khách du lịch thăm bản làng Tả Van (Sapa) * Du lịch xã hội: Du lịch xã hội hấp dẫn người mà đối với họ sự tiếp xúc, giao lưu với những người khác là quan trọng.Đối với một số người, khi được đồng hành cùng với các thành viên của một nhóm xã hội trong các chương trình du lịch cũng làm họ thỏa mãn, hài lòng. Một số người khác tìm kiếm cơ hội được hòa nhập với cư dân bản xứ của nơi đến.
Thăm gia đình cũng có thể được bao hàm trong loại hình này.Ví dụ: Du lịch Homestay.