mở đầu quá trình cơ giới hoá. Năm 1785, linh mục Edmund Cartwright cho ra đời một phát minh quan trọng trong ngành dệt là máy dệt vải. Máy này đã tăng năng suất dệt lên tới 40 lần. Trong thời gian này, ngành luyện kim cũng có những bước tiến lớn.
Năm 1784, Henry Cort đã tìm ra cách luyện sắt “puddling”. Mặc dù phương pháp của Henry Cort đã luyện được sắt có chất lượng hơn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về độ bền của máy móc. Năm 1885, Henry Bessemer đã phát minh ra lò cao có khả năng luyện gang lỏng thành thép, khắc phục được những nhược điểm của chiếc máy trước đó. Bước tiến của ngành giao thông vận tải đánh dấu bằng sự ra đời của chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước vào năm 1804.
Đến năm 1829, vận tốc xe lửa đã lên tới 14 dặm/giờ. Thành công này đã làm bùng nổ hệ thống đường sắt ở Châu Âu và Mỹ. Năm 1807, Robert Fulton đã chế ra tàu thủy chạy bằng hơi nước thay thế cho những mái chèo hay những cánh buồm. Cách mạng công nghiệp lần thứ hai: Cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai lại được khởi xướng từ cuối thế kỷ 19, kéo dài đến đầu thế kỷ 20.
Một trong những đặc điểm đáng lưu ý trong nền đại công nghiệp là dây chuyền sản xuất hàng loạt - áp dụng nguyên lý quản trị của F. Các nhà khoa học đã có những phát minh lớn về những công cụ sản xuất mới: máy tính, máy tự động và hệ thống máy tự động, người máy, hệ điều khiển tự động. Các nhà sáng chế thời kỳ này cũng nghiên cứu, tạo ra những vật liệu mới như chất polymer với độ bền và sức chịu nhiệt cao, được sử dụng rộng rãi trong đời sống, và trong các ngành công nghiệp. Trong thời gian này, những nguồn năng lượng mới hết sức phong phú và vô tận như năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy triều… cũng được tìm ra để thay thế cho nguồn năng lượng cũ.
Những tiến bộ thần kì trong giao thông vận tải và thông tin liên lạc như máy bay siêu âm khổng lồ, tàu hỏa tốc độ cao và những phương tiện thông tin liên lạc, phát sóng vô tuyến qua hệ thống vệ tinh nhân tạo, những thành tựu kỳ diệu trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ như phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất, bay vào vũ trụ và đặt chân lên mặt trăng là những thành tựu đi vào lịch sử của cuộc cách mạng công nghiệp lần hai này. Bên cạnh đó, cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp với những tiến bộ nhảy vọt trong cơ khí hóa, thủy lợi hóa, phương pháp lai tạo giống, chống sâu bệnh… giúp nhiều nước có thể khắc phục nạn thiếu lương thực, đói ăn kéo dài. Cách mạng công nghiệp lần thứ ba: Cuộc cách mạng công nghiệp lần 3 diễn ra vào những năm 1970 với sự ra đời của sản xuất tự động dựa vào máy tính, thiết bị điện tử và Internet, tạo nên một thế giới kết nối. Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba diễn ra khi có các tiến bộ về hạ tầng điện tử, máy tính và số hoá vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990).
Cho đến cuối thế kỷ 20, quá trình này cơ bản hoàn thành nhờ những thành tựu khoa học công nghệ cao. Vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, Internet… là những công nghệ hiện nay chúng ta thụ hưởng là từ cuộc cách mạng này. Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư: Năm 2013, một từ khóa mới là “Công nghiệp 4.0” bắt đầu nổi lên xuất phát từ một báo cáo của chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người. Đây được gọi là cuộc cách mạng số, thông qua các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC)… để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số.
Hiệu quả của việc ứng dụng các thiết bị công nghiệp Máy móc thiết bị đóng vai trò cực kì quan trọng và thiết yếu trong bất kỳ nhà máy, xí nghiệp và phân xưởng nào. Đầu tiên, máy móc thiết bị sẽ giúp dây chuyền sản xuất của bạn hoạt động một cách hiệu quả nhất. Các thiết bị cơ khí sẽ giúp cải thiện chất lượng, hạn chế tình trạng sai sót trong thành phẩm, mang lại một chất lượng đồng đều. Các loại máy móc thiết bị cơ khí sẽ góp phần đáng kể trong việc nâng cao hiệu suất lao động, tăng sản lượng sản xuất.
Từ đó có thể tiếp kiệm chi phí thuê nhân công, giảm sức lao động chân tay của con người. Đặc biệt, với dây chuyền sản xuất tự động hóa, các sản phẩm sẽ dễ dàng đạt các tiêu chuẩn chất lượng, không bị thôi nhiễm các chất độc, dễ dàng xuất khẩu sang thị trường nước ngoài. Tối ưu được năng suất do có thể sản xuất số lượng lớn sản phẩm trong thời gian ngắn. Từ đó có thể giảm giá thành cho sản phẩm.
Ứng dụng máy móc vào sản xuất sẽ giúp mang lại sự chuyên nghiệp cao trong mỗi sản phẩm, cho phép thực hiện các công việc được dễ dàng, nhanh chóng mà làm thủ công khó có thể thực hiện được. Ví dụ như công việc chiết rót dung dịch vào chai lọ, thực hiện bằng máy sẽ đảm bảo sự đồng đều về dung tích, không bị tràn cũng như hạn chế thôi nhiễm các chất độc hại khác. Một dây chuyển đóng rót và đóng chai 1. Khái quát các thiết bị dùng trong công nghiệp.
Phân loại và ký hiệu máy công cụ. a) Phân loại Theo khối lượng: Chia làm 03 loại - Loại nhẹ: Dưới 1 tấn - Loại trung bình: dưới 10 tấn - Loại hạng nặng: từ 10 tấn trở lên, có loại đến 1600 tấn Theo độ chính xác: Có 3 loại - Độ chính xác thường - Độ chính xác cao - Độ chính xác rất cao Theo mức độ gia công: - Máy vạn năng: có công dụng chung để gia công nhiều loại chi tiết có hình dạng, kích thước khác nhau. Chúng thường được dùng trong sản xuất đơn chiếc hoặc sản xuất hàng loạt nhỏ. - Máy chuyên môn hóa: dùng để gia công một loại hay một vài chi tiết có hình dạng gần giống nhau như trục, bạc, vòng bi.
Chúng thường được dùng trong sản xuất hàng loạt như máy gia công bánh răng, vòng bi, tiện ren,… - Máy chuyên dùng: để gia công một loại chi tiết có hình dạng, kích thước nhất định. Loại này dùng trong sản xuất hàng loạt lớn và hàng khối. Theo công dụng và chức năng làm việc: - Máy tiện - Máy bào - Máy khoan - Máy phay - Máy mài, … b) Ký hiệu máy công cụ: Để dễ dàng phân biệt các nhóm máy khác nhau, người ta đã đặt các ký hiệu cho máy. Các nước có ký hiệu khác nhau.
Các máy sản xuất ở Việt Nam được ký hiệu như sau: - Chữ đầu tiên chỉ nhóm máy: T – tiện; KD – khoan doa; M – mài; TH – tổ hợp; P – phay; BX – bào xọc; C – cắt đứt, … - Chữ số tiếp theo biểu thị kiểu máy, đặc trưng cho một trong những kích thước quan trọng của chi tiết máy hay dụng cụ gia công. - Các chữ cái sau cùng chỉ rõ chức năng, mức độ tự động hóa, độ chính xác và cải tiến máy. Ví dụ: T620A: T – Tiện; số 6 – kiểu vạn năng; số 20 – chiều cao tâm máy là 200 mm tương ứng với đường kính lớn nhất gia công trên máy là 400 mm; chữ A – là cải tiến từ máy T620. Theo TCVN, máy công cụ có 5 cấp chính xác theo các chữ cái E, D, C, B, A.
Trong đó, E là cấp chính xác thường; B là cấp chính xác đặc biệt cao; A là cấp siêu chính xác. Các máy công cụ cơ bản. Các máy công cụ cơ bản gồm có: Máy tiện, máy khoan – doa, máy bào – xọc, máy phay, máy mài. Một số loại thiết bị công nghiệp dùng trong các ngành công nghiệp.
Các thiết bị công nghiệp trong ngành xây dựng. a) Công dụng và phân loại tổng thể máy xây dựng Máy xây dựng là danh từ chung chỉ các máy và thiết bị phục vụ cho công tác xây dựng cơ bản: dân dụng, công nghiệp, giao thông vận tải, cảng, thuỷ lợi. Do vậy Máy xây dựng có rất nhiều chủng loại và cũng rất đa dạng. Để thuận tiện cho việc nghiên cưú, lựa chọn và ứng dụng trong thi công các công trình, người ta phân loại Máy xây dựng theo tính chất công việc hay công dụng mà phân chia thành các nhóm sau: Tổ máy phát lực: Để cung cấp động lực cho các máy khác làm việc, thường là những tổ máy Diezel, Điện, Nén khí v.
Các tổ máy này lại do động cơ đốt trong hoặc động cơ điện cung cấp năng lượng. Máy vận chuyển: Để vận chuyển vật liệu và hàng hoá người ta phân ra: - Máy vận chuyển ngang: hướng vận chuyển song song với mặt đất, di chuyển trên đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không. - Máy vận chuyển theo phương đứng hay lên cao còn gọi là máy nâng chuyển: kích, tời, palăng, thang tải, cần trục, cổng trục. - Máy vận chuyển liên tục: hướng vận chuyển có thể ngang, nghiêng, thẳng đứng nhưng đặc điểm là được vận chuyển thành một dòng liên tục: băng tải, gầu tải, vít tải.
Máy làm đất: gồm các loại máy phục vụ cho công việc thi công khai thác đất, đá, than, quặng như: máy đào đất, máy đào - chuyển, máy đầm đất. Máy gia công đá: phục vụ cho việc nghiền, sàng phân loại và rửa đá, sỏi, quặng, cát. Máy phục vụ cho công tác bêtông và bêtông cốt thép: phục vụ việc trộn, vận chuyển bêtông và đầm bêtông. Máy gia công sắt thép: phục vụ cho việc cắt, uốn, kéo, hàn cốt thép.
Máy gia cố nền móng: gồm các loại máy đóng cọc, ép cọc, khoan cọc nhồi, cắm bấc thấm. Các máy và thiết bị chuyên dùng cho công tác thi công đường bộ, đường sắt và công trình cầu: như máy đặt ray, máy rải thảm, máy thi công lao lắp cầu…. Máy và thiết bị chuyên dùng cho từng ngành: như máy hoàn thiện, máy cắt mối bêtông, máy sản suất gạch, ngói, xi măng. Ngoài các cách phân loại như trên, người ta còn phân loại máy xây dựng theo nguồn động lực (máy dẫn động bằng động cơ đốt trong, điện, thuỷ lực.