chương 1 sẽ trang bị cho sinh viên những tri thức cơ bản, hệ thống về sự ra đời và phát triển của môn học kinh tế chính trị Mác - Lênin, về đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và chức năng của khoa học kinh tế chính trị Mác - Lênin trong nhận thức cũng như trong thực tiễn. Trên cơ sở nhận thức như vậy sẽ giúp cho sinh viên hình dung được một cách sáng rõ nội dung khoa học của môn học kinh tế chính trị Mác - Lênin và ý nghĩa của môn học đối với bản thân mỗi người lao động cũng như quản lý khi tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội cũng như tham gia lĩnh vực nghiên cứu lý luận chính trị. KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN Trong dòng chảy tư tưởng kinh tế của nhân loại kể từ thời kỳ cổ đại cho tới ngày nay, do đặc thù trình độ phát triển ứng với mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi nền sản xuất xã hội mà hình thành nhiều tư tưởng, trường phái lý luận về kinh tế khác nhau. Mặc dù có sự đa dạng về nội hàm lý luận, nội dung tiếp cận và đối tượng nghiên cứu riêng phản ánh trình độ nhận thức, lập trường tư tưởng và quan điểm lợi ích của mỗi trường phái, song các chuyên ngành khoa học kinh tế nói chung và khoa học kinh tế chính trị nói riêng đều có điểm chung ở chỗ chúng là kết quả của quá trình không ngừng hoàn thiện.
Các phạm trù, khái niệm khoa học với tư cách là kết quả nghiên cứu và phát triển khoa học kinh tế chính trị ở giai đoạn sau đều có sự kế thừa một cách sáng tạo trên cơ sở những tiền đề lý luận đã được khám phá ở giai đoạn trước đó, đồng thời dựa trên cơ sở kết quả tổng kết thực tiễn kinh tế của xã hội đang diễn ra. Kinh tế chính trị Mác - Lênin, một trong những môn khoa học kinh tế chính trị của nhân loại, được hình thành và phát triển theo logic lịch sử như vậy. Về mặt thuất ngữ, thuật ngữ khoa học Kinh tế chính trị (political economy) được xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XVII trong tác phẩm Chuyên luận về kinh tế chính trị được xuất bản năm 1615. Đây là tác phẩm mang tính lý luận kinh tế chính trị của nhà kinh tế người Pháp (thuộc trường phái trọng thương Pháp) có tên gọi là A.
Trong tác phẩm này, tác giả đề xuất môn khoa học mới - khoa học kinh tế chính trị. Tuy nhiên, tác phẩm này mới chỉ là những phác thảo ban đầu về môn học kinh tế chính trị. Phải kể tới thế kỷ XVIII, với sự xuất hiện lý luận của A. Smith - một nhà kinh tế học 3 nước Anh- thì kinh tế chính trị mới trở thành môn môn học có tính hệ thống với các phạm trù, khái niệm chuyên ngành.
Kể từ đó, kinh tế chính trị dần trở thành một môn khoa học và được phát triển cho đến tận ngày nay. Xét một cách khái quát, dòng chảy tư tưởng kinh tế của loài người có thể được mô tả như sau: Từ thời cổ đại đến cuối thế kỷ XVIII và từ sau thế kỷ thứ XVIII đến nay. Trong thời gian từ thời cổ đại đến cuối thế kỷ thứ XVIII có những tư tưởng kinh tế thời kỳ cổ, trung đại (từ thời cổ đại đến thế kỷ thứ XV) - chủ nghĩa trọng thương (từ thế kỷ thứ XV đến cuối thế kỷ XVII, nổi bật là lý thuyết kinh tế của các nhà kinh tế ở nước Anh, Pháp và Italia) - chủ nghĩa trọng nông (từ giữa thế kỷ thứ XVII đến nửa đầu thế kỷ XVIII, nổi bật là lý thuyết kinh tế của các nhà kinh tế ở Pháp) - kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh (từ giữa thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII). Trong thời kỳ cổ, trung đại của lịch sử nhân loại, do trình độ phát triển khách quan của các nền sản xuất nên, nhìn chung mới có rải rác các tư tưởng kinh tế được phản ánh trong các công trình của các nhà tư tưởng, chưa hình thành hệ thống lý thuyết kinh tế chính trị hoàn chỉnh với nghĩa bao hàm các phạm trù, khái niệm khoa học.
Chủ nghĩa trọng thương là hệ thống lý luận kinh tế chính trị đầu tiên nghiên cứu về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tư tưởng trọng thương chủ nghĩa thể hiện tập trung thông qua các chính sách kinh tế của nhà nước của giai cấp tư sản trong thời kỳ hình thành ban đầu. Chủ nghĩa trọng thương coi trọng vai trò của hoạt đông thương mại. Các đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa trọng thương bao gồm: Starfod (Anh); Thomas Mun (Anh); Xcaphuri (Italia); Antonso Serra (Italia); Antoine Montchretien (Pháp).
Đặc trưng lý luận của chủ nghĩa trọng thương là họ đánh giá cao vai trò của tiền tệ, coi tiền tệ (vàng và bạc) là tiêu chuẩn cơ bản của của cải. Theo các nhà kinh tế của chủ nghĩa trọng thương thì, sự giàu có tích luỹ dưới hình thái tiền tệ là sự giàu có vĩnh viễn. Theo họ, để có thể tích luỹ tiền tệ phải thông qua hoạt động thương mại mà trước hết là ngoại thương. Chủ nghĩa trọng thương đề cao vai trò của ngoại thương, coi ngoại thương như là cỗ máy bơm, còn ngoại thương như ống dẫn.
Muốn tăng của cải quốc gia phải coi trọng ngoại thương. Cùng với đó, chủ nghĩa trọng thương coi lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông sản sinh ra. Do vậy, người ta chỉ có thể làm giàu bằng con đường ngoại thương thông qua mua rẻ ở quốc gia này, bán đắt ở quốc gia khác. Đối với chủ nghĩa trọng thương, việc tích luỹ tiền tệ chỉ được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của nhà 4 nước.
Các nhà nước phải tích cực can thiệp vào nền kinh tế để hút tiền tệ từ nước ngoài về trong nước với quy mô càng lớn càng có lợi. Muốn vậy chỉ có thúc đẩy ngoại thương. Chủ nghĩa trọng nông là hệ thống lý luận kinh tế chính trị nhấn mạnh vai trò của sản xuất nông nghiệp. Coi trọng sở hữu tư nhân và tự do kinh tế.
Đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa trọng nông ở Pháp gồm: Francois Queney; Turgot; Boisguillebert. Chủ nghĩa trọng nông thực hiện sự kế thừa mang tính phê phán đối với chủ nghĩa trọng thương, các nhà kinh tế trọng nông cho rằng chủ nghĩa trọng thương đã coi trọng quá mức vai trò của tiền tệ. Nếu như các nhà kinh tế của chủ nghĩa trọng thương coi ngoại thương là nguồn gốc của sự giàu có của một quốc gia thì các nhà kinh tế trọng nông lại coi nông nghiệp là cơ sở của sự phồn vinh. Vì thế, nông nghiệp cần được khuyến khích phát triển.
Chủ nghĩa trọng nông đề cao sự tự do kinh tế, tự do lưu thông để kích thích nông nghiệp phát triển. Chủ nghĩa trọng nông nhấn mạnh chỉ có nền nông nghiệp giàu có mới tạo ra sự giàu có cho tất cả mọi thành viên trong xã hội. Theo các nhà kinh tế của chủ nghĩa trọng nông, tiền vàng hay tiền bạc không có ý nghĩa quan trọng bằng nông nghiệp, sản xuất thực tế từ nông nghiệp có vai trò quan trọng hơn cả. Một trong những lý thuyết quan trọng của chủ nghĩa trọng nông là lý thuyết về sản phẩm ròng.
Các nhà kinh tế của chủ nghĩa trọng nông cho rằng, sản phầm ròng là sản phẩm do đất đai mang lại sau khi đã trừ đi chi phí lao động và chi phí cần thiết để tiến hành canh tác. Sản phẩm ấy là tặng vật của tự nhiên cho con người, không phải là do quan hệ xã hội mà có. Chỉ có ngành sản xuất nông nghiệp mới tạo ra sản phẩm ròng, các ngành công nghiệp và thương mại không thể tạo ra sản phẩm ròng được!. Theo họ, trong lĩnh vực nông nghiệp giá trị hàng hóa bằng tổng chi phí sản xuất tương tự như trong công nghiệp cộng với sản phẩm ròng mà ngành công nghiệp không có.
Bởi vì chỉ có ngành nông nghiệp mới có sản phẩm ròng do có tặng vật từ tự nhiên. Như vậy, chủ nghĩa trọng nông có sự tiến bộ so với chủ nghĩa trọng thương khi nghiên cứu, tìm hiểu nguồn gốc của giá trị từ trong sản xuất thay vì trong lưu thông như chủ nghĩa trọng thương. Tuy nhiên, việc tuyệt đối hóa vai trò của nông nghiệp lại làm cho nhận thức về vai trò của công nghiệp trong phát triển của chủ nghĩa trọng nông bị hạn chế. Kinh tế chính trị cổ điển Anh là hệ thống lý luận kinh tế của các nhà kinh tế tư sản trình bày một cách hệ thống các phạm trù kinh tế trong nền kinh tế thị 5 trường như hàng hóa, giá trị, tiền tệ, giá cả, tiền công, lợi nhuận… để rút ra những quy luật vận động của nền kinh tế thị trường.
Đại biểu tiêu biểu của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh gồm: W. Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh nghiên cứu các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất, trình bày một cách hệ thống các phạm trù kinh tế thuộc nền kinh tế thị trường trong điều kiện tư bản chủ nghĩa nhằm luận chứng cho cương lĩnh kinh tế và các chính sách kinh tế của nhà nước tư sản đương thời trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất. Từ sau thế kỷ XVIII đến nay, lịch sử tư tưởng kinh tế của nhân loại chứng kiến các con đường phát triển đa dạng với các dòng lý thuyết kinh tế khác nhau. Cụ thể: Dòng lý thuyết kinh tế chính trị của C.Mác (1818-1883) kế thừa trực tiếp những giá trị khoa học của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh để phát triển lý luận, phân tích một cách khoa học, toàn diện về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, tìm ra những quy luật kinh tế chi phối sự hình thành, phát triển và luận chứng vai trò lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Ănghen cũng là người có công lớn trong việc công bố lý luận kinh tế chính trị, một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác. Lý luận Kinh tế chính trị của C. Ănghen (1820-1895) được thể hiện tập trung và cô đọng nhất trong Bộ Tư bản.Mác trình bày một cách khoa học với tư cách là một chỉnh thể các phạm trù cơ bản của nền kinh tế thị trường như hàng hóa, tiền tệ, giá trị thặng dư, tích luỹ, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, tư bản, cạnh tranh cùng các quy luật kinh tế cơ bản cũng như các quan hệ xã hội giữa các giai cấp trong nền kinh tế thị trường dưới bối cảnh nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Các lý luận kinh tế chính trị của C.