Mở đầu Vấn đề TỪ trong Ngôn ngữ học F.DE SAUSSURE nhận xét:".Ngôn ngữ có tính chất kỳ lạ và đáng kinh ngạc là không có những thực thể thoạt nhìn có thể thấy ngay được, thế nhưng người ta vẫn biết chắc là nó tổn tại, và chính sự giao lưu giữa những thực thể đó làm thành ngôn ngữ" (133,181). Trong số những thực thể đó có cái mà ngôn ngữ học vẫn gọi la tiz. Tính chất "thoạt nhìn không thể thấy ngay được" của ¿ừ khiến cho việc nhận diện nó gặp rất nhiều khó khăn. Để nhận diện bất kỳ đơn vị nào của ngôn ngữ, người nghiên cứu cũng phải tiến hành hai thao tác: phân tách và tập hợp.
Phân tách là tách các đơn vị đang nghiên cứu "ra khỏi những cái gì bao quanh nó trên dòng âm thanh" (133,185). Đây là thao tác tiến hành trên trục tuyến tính. Tập hợp là thao tác tiến hành trên trục trực tuyến, có nhiệm vụ quy các dạng xuất hiện(occurences) hay các hiện đạng(tokens) khác nhau trên trục tuyến tính của một đơn vị về chính đơn vị đó. Vì là hệ quả của quản hệ tuyến tính và quan hệ trực tuyến của ngôn ngữ, cho nên tính bắt buộc của hai thao tác này cũng là hệ quả của tính tất yếu của hai quan hệ trên.
Và cũng bởi vì quan hệ tuyến tính và quan hệ trực tuyến quy định lẫn nhau, cho nên cũng có sự quy định lẫn nhau giữa hai thao tác. Chẳng những tiêu chí để phân tách và tập hợp phải nhất quán khi nhận diện các đơn vị thuộc cùng một loạinói đúng hơn: cùng một cấp độ) mà kết quả của việc phân tách phải tạo điều kiện thuận lợi cho thao tác tập hợp và ngược lại.org Cho đến nay, tập quán vẫn xem cứ liệu để thực hiện hai thao tác trên là các chuỗi ngữ lưu, các dòng âm thanh thu thập được trong giao tiếp. Từ là những đơn vị hai mặt, có hình thức âm thanh và có ý nghĩa, cho nên cũng dễ nghĩ rằng, để tách được đòng âm thanh thành các từ thì phải tách cho được cái chuỗi ý nghĩa của nó thành từng đơn vị ý nghĩa, rồi cho các đơn vị ý nghĩa đó ứng với đoạn âm thanh mà nó cũng chia ra được. Thế nhưng, thế nào là một đơn vị ý nghĩa? Câu hỏi không dễ trả lời, nên việc cắt ra những đơn vị ý nghĩa không có gì là hiển nhiên.
ở đây có một nghịch lý: để cắt cho được ý nghĩa của dòng ngữ lưu thành những đơn vị ý nghĩa và cắt dòng ngữ lưu thành những đoạn âm thích hợp cho việc gắn chúng với nhau thì phải có một cái gì đó làm chuẩn. Cái gì đó làm chuẩn cả về mặt ngữ âm và ý nghĩa đường như tổn tại sẵn ngoài dòng âm thanh cứ liệu, do kinh nghiệm ngôn ngữ mà có, chứ không phải được tách ra trên dòng âm thanh. Nhưng chính cái chuẩn đó lại là cái đang phải tìm trên chuỗi ngữ lưu. Như thế, không thể thực hiện được thao tác phân tách từ nếu chỉ dựa vào quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của từ.
Có thể thực hiện thao tác này dựa trên nguyên tắc khác: nguyên tắc quan hệ cú pháp. Theo nguyên tắc này, thì từ được đồng nhất với đơn vị cú pháp tối thiểu, và được xem là cái đơn vị lớn nhất của câu ở đó chấm dứt sự phân tích các quan hệ cú pháp. Nguyên tắc này thực ra cũng không thoát khỏi cái nghịch lý như đã nói ở trên: sự phân tích quan hệ cú pháp tiền giả định sự phân biệt các đơn vị trong khi chính sự phân biệt đơn vị lại là cái đang phải thực hiện khi áp dụng sự phân tích quan hệ cú pháp. Nhưng gạt cái nghịch lý đó đi thì sự vận dụng nguyên tắc này dẫn tới bế tắc là có những đơn vị được xem là nơi chấm đứt của sự phân tích quan hệ cú pháp trong ngữ lưu này, nhưng lại có thể tiếp tục sự phân tích quan hệ cú pháp ở ngữ lưu khác.
Cái khó cho thao tác tập hợp là cả hai thành phần của từ, âm và ý nghĩa, đều không cố định trong các dạng xuất hiện của nó. Có mấy trường hợp biến đổi ngữ âm của từ như sau: 6 https://tieulun.org a) Biến đổi ngữ âm từ vựng học, như "galosi" và "kalosi" (đôi ủng bọc ngoài đôi giấy - tiếng Nga), "mwa" và "mwaz" (tháng, chữ viết "mois" - tiếng Pháp) (133, 184). Sự khác nhau về ngữ âm ở đây không đi kèm với bất cứ sự biến đổi nào về nghĩa sự vật hay nghĩa ngữ pháp. b) Biến đổi ngữ âm hình thái học.
Đây là trường hợp sự biến đối ngữ âm của từ có chức năng biểu thị các ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp của từ. trường hợp này lại chia thành: b1/ biến đổi ngữ âm hình thái học bị quy định bởi hệ hình, như các dạng biến cách của danh từ, tính từ, các dạng "chia" của động từ, v. tiếng Nga; và b2/ sự biến đổi không bị quy định bởi hệ hình. Đây là trường hợp các "hình thái bổ sung" (supplebion) như "chelovek" và "ljudi" (người, số ít và số nhiều), “idti" va "sel" (đi, nguyên thức và thời quá khứ tiếng Nga); "aller" và "je vais" (đi, nguyên thức và thời biện tại ngôi thứ nhất tiếng Pháp), v.
Về ý nghĩa, có thể nói một cách tổng quát rằng, trong mỗi ngữ lưu (tức trong sử dụng), mỗi từ không còn là chính nó nữa. Sự đồng nhất về ngữ nghĩa - ngay ở cả những tác giả phủ định khả năng nghiên cứu ngữ nghĩa một cách khoa học - luôn luôn là chỗ dựa để phân tách các đơn vị và để đẳng nhất các đơn vị. Thế mà chính nó, ý nghĩa, lại là cái biến động hơn mọi thành phần khác của từ trong ngữ lưu. Như đã nói về tính quy định lẫn nhau giữa hai thao tác, sự phân tách £ừ trên chuỗi tuyến tính tiền giả định một sự đồng nhất, tức tiền giả định kết quả của thao tác tập hợp, và sự tập hợp tiền giả định những đơn vị đã được tách ra, tức tiền giả định kết quả của thao tác phân tách.
Đó là thực chất của cái bi kịch nhận diện tw lấy ngữ lưu làm cứ liệu và lấy việc nhận diện ¿ử trong ngỡ lưu làm mục đích. Truyền thống ngôn ngữ học vẫn gọi các dạng xuất hiện của một £ừ là các từ hình. Làm thế nào để có thể quy các từ hình về một từ? Các tiêu chí hay các nguyên tắc để làm việc này cho đến nay vẫn không thể nói là đã ổn định và nhất quán trong việc nghiên cứu các ngôn ngữ và ngay trong lòng một ngôn ngữ. Thông thường là dựa vào sự dồng nhất giữa các từ hình về một bộ phận ngữ âm và dựa vào cái gọi là ý nghĩa từ vựng, 7 https://tieulun.org một thuật ngữ cũng chưa lấy gì làm rõ ràng.
Thế nhưng, trong khi "vais", "vas", "vont" (t6i đi, anh đi, chúng nó đi - thời hiện tại tiếng Pháp) được xem là các từ hình (bất quy tắc) của động từ "aller", thì "eoq" (gà trống) và "poule" (gà mái) lại là hai từ, mặc dầu trong tiếng Pháp vẫn có hệ hình thái của động từ có tính quy tắc. Tạm bồ qua vấn đề nguyên tắc đẳng nhất các từ hình. Giả định cái quan niệm cho rằng ¿ử có các từ hình khác nhau là đúng, và chúng ta đã phân định được các từ hình, thì vấn đề cái từ mà các từ hình quy về đó là thế nào, nó có dạng ngữ âm và dạng ngữ nghĩa hiển nhiên không? Thường thì các dạng từ điển được xem là cái từ đó, cái từ mà các từ hình khác được duy về. Thế nhưng, dạng từ điển là một cái gì đó có tính quy tước.
Dạng từ điển của động từ tiếng Pháp là dạng nguyên thức, trong khi ở tiếng Latin là- từ hình ngôi thứ nhất, số ít, thời hiện tại. Cách nói từ là hằng thể và từ hình là biến thể, hoặc từ biến đổi thành các từ hình, khiến có thể nghĩ rằng từ vốn có một đạng ngữ âm và ngữ nghĩa cụ thể, cái dạng này sẽ "biến" trong câu. Thực ra, có nhiều trường hợp không có sự "biến" đó. ở tiếng Pháp, từ hình "vais" và "trai" (tôi đi, thời tương lai đơn) không phải được "biến" từ "aller".
Chúng chỉ là từ hình của hai động từ Latin cổ "vadere" và "ire" được đưa vào hệ hình của "aller". Cũng đã có những tác giả biện hộ cho việc lấy dạng từ điển làm dang cơ sở của hệ hình (như tính ít bị lệ thuộc vào ngữ cảnh, dạng định danh, v. Dù các lý lẽ có hợp lý đến đâu thì cũng phải xem các dạng này chỉ là một trong những từ hình, không mang những đặc trưng cơ bản nhất của từ. Vấn để này, đẳng nhất các từ hình, đã được truyền thống ngôn ngữ học Nga-Xô viết chú ý từ lâu.
"Từ là hệ thống của những hình thái và ý nghĩa, có quan hệ với các đơn vị có ý nghĩa khác của ngôn ngữ", viện sĩ V. Vinogradov đã viết trong cuốn Ruxxkij jazuk (50). Va nhiều nhà ngôn ngữ học Phương Tây nói vắn tắt hơn: từ là loại của các từ hình. Nhưng thế nào là "hệ thống các hình thái", là "loại của từ hình" ? Chúng ta sẽ trở lại vấn để này ở sau và sẽ còn phải làm rõ 8 https://tieulun.org trong toàn bộ cuốn sách.
Có điều chắc chắn là với cách hiểu như vậy, không thể nào đồng nhất việc xác định từ trong ngôn ngữ nói chung với cái gọi là nhận diện từ trong chuỗi ngữ lưu. Tinh déc lập cho đến nay thường được nhắc đến trong các định nghĩa về từ và được xem là một tiêu chí đáng tin cậy nhất. Tuy nhiên, có những cách hiểu khác nhau về tính độc lập. Theo các định nghĩa của L.
"Hình thái có thể làm thành một câu là hình thái tự do. Hình thái không tự do là hình thái hạn chế. Như "book" (sách), "the man” (người, xác định) là hình thái tự do, "-ing", "-er" trong “writing” "writer" là hình thái hạn chế. "Hình thái tự do nhỏ nhất là từ.
Từ như vậy là hình thái có thể được phát âm riêng rẽ (cùng với ý nghĩa), nhưng không thể phân chia thành những bộ phận cũng được dùng một cách riêng rẽ mà độc lập ở tróng câu (nhưng vẫn mang ý nghĩa)" (71), thì độc lập có nghĩa là: a) một mình có thể làm câu tối giản. b) không thể phân chia được thành những bộ phận nhỏ hơn cũng độc lập.