Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Xuất phát từ vai trò của văn hóa học đường và thực trạng xây dựng văn hóa học đường ở Việt Nam, trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài. Nâng cao hiệu quả giáo dục VHHĐ đã thực sự trở thành vấn đề cấp thiết cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý, các nhà khoa học. Trong phạm vi bao quát của chúng tôi, có thể khái quát một số công trình tiếp cận đề tài theo các hướng: 1. Các công trình nghiên cứu về văn hóa học đường và giáo dục văn hóa học đường 1.
Những nghiên cứu về văn hoá và văn hóa học đường Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện rất sớm trong ngôn ngữ loài người. Cùng với sự phát triển của lịch sử nhân loại, nhận thức của con người về văn hóa, khái niệm văn hóa cũng không ngừng thay đổi và luôn được bổ sung những nội dung mới, những cách nhìn mới. Chưa bao giờ vấn đề văn hóa lại giành được sự quan tâm như hiện nay cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Điều này càng chứng tỏ vai trò quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội.
Khái niệm “văn hóa” (Cultura) có nguồn gốc từ phương Tây, theo tiếng Latinh có nghĩa là: cày, cấy, vun trồng, làm ruộng, chăm bón, cải thiện, gìn giữ trong sản xuất nông nghiệp. Xét theo nguồn gốc thuật ngữ, văn hóa là khái niệm gắn với lao động sản xuất, một hoạt động sáng tạo mang bản chất người nhất. Về sau thuật ngữ văn hóa được bổ sung thêm những nghĩa mới trừu tượng hơn, nói về tính có học vấn, tính có giáo dục, sự mở mang trí tuệ của con người. Chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng đã đi tìm nội dung tích cực và bổ sung những nhận thức mới mẻ về văn hóa.
Thời kỳ này được xem như thời kỳ phát hiện lại con người. Bởi vậy, “văn hóa” được nhìn nhận như lĩnh vực tồn tại chân chính của con người, lĩnh vực “tính người” thật sự đối lập với lĩnh vực “tính tự 8 nhiên”, “tính động vật”. Văn hóa được xem như sự phát triển của con người phù hợp với bản chất của nó. Từ nguyên nghĩa của văn là xăm thân, và nghĩa gốc của văn hóa là nét xăm mình mà qua đó người khác nhìn vào để nhận ra mình Theo cách triết tự Hán Việt (bộ Từ Hải năm 1989), văn có nghĩa là “vẻ đẹp” (= có giá trị), hóa là “trở thành”, là “giáo dục”.
Như vậy, văn hóa có nghĩa là trở thành đẹp, giáo dục đẹp, thành có giá trị. Sau này, văn hóa thường được dùng với nghĩa: cái chứa cái đẹp, chứa các giá trị, là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người. Theo quan điểm của C. Mác, văn hóa gắn liền với sức sáng tạo và năng lực bản chất của con người.
Sự sáng tạo đó bao giờ cũng bắt đầu từ lao động. Lao động sáng tạo ra con người và xã hội loài người, làm cho con người ngày càng trở thành thật sự người. Vì vậy, văn hóa là năng lực tạo nên sáng tạo, là sự phát triển những năng lực bản chất của con người. Lênin khi bàn về văn hóa cho rằng, nó là tổng thể các dạng hoạt động sáng tạo của con người và tất cả giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của chính mình.
Theo đó, có thể hiểu văn hóa là “thiên nhiên thứ hai” được “nhân hóa” qua thực tiễn của con người [36, tr. Văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Theo nghĩa này, tại “Mục đọc sách” viết xen tập “Nhật ký trong tù” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng sự biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [82, tr.Gonzles quan niệm văn hóa bao gồm các giá trị, quan niệm, thái độ, hành vi và các mối quan hệ tạo nên ý nghĩa, niềm tin và sự thống nhất của một nhóm người [138]. Tiếp cận văn hóa dưới góc độ tổ chức, Ehlers (2009) tổng hợp các tác giả và cách tiếp cận văn hóa. 9 Tác giả Cách tiếp cận Các yếu tố văn hóa Gerent Văn hóa là quy ước về tinh thần hỗ trợ Biểu hiện, hình mẫu, lễ Hofstede mọi người thực hiện thuận lợi các hoạt nghi, giá trị. (1991) động thông qua biểu hiện, nhân cách, lễ nghi và giá trị.
Edgar Văn hóa là một lại quy ước cơ bản do Giá trị, sự việc hữu hình, Schein một nhóm người đưa ra để giải quyết quy ước. (1992) các vấn đề thích ứng với bên ngoài và hòa hợp với bên trong. Johannes Văn hóa có thể so sánh với các quy luật Quy tắc và giá trị, quan Rsegg ngữ pháp và ngữ nghĩa trong một hệ điểm và thái độ, hiện (2002) thống quy ước của một nhóm người. thực và huyền thoại, cách nghĩ, thói quen, ngôn ngữ, mong đợi của tập thể.
Gareth Văn hóa là một hiện tượng của tập thể Giá trị, kiến thức, niềm Mogan và xã hội liên quan đến các ý tưởng, giá tin, chuẩn mực, lễ nghi (2002) trị và ảnh hưởng đến hoạt động của một nhóm người mà họ không nhận thấy rõ. Cách tiếp cận khác nhau về văn hóa [137, tr.343-363] Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Ngọc Thêm xuất phát từ lý thuyết hệ thống, trình bày mô hình văn hóa gồm ba thành tố cơ bản: Văn hóa nhận thức: Mỗi nền văn hóa đều là tài sản của một cộng đồng người nhất định - một chủ thể văn hóa. Trong quá trình tồn tại và phát triển, cộng đồng người - chủ thể văn hóa đó luôn có nhu cầu tìm hiểu, tích lũy được một lượng kinh nghiệm và tri thức phong phú về vũ trụ và bản thân con người - đó chính là văn hóa nhận thức. Văn hóa tổ chức: Là những giá trị văn hóa tổ chức của cộng đồng như văn hóa tổ chức đời sống tập thể (những vấn đề liên quan đến tổ chức sản xuất trong một quy mô rộng lớn như tổ chức nông thôn, đô thị, quốc gia) và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân (những vấn đề liên quan đến đời sống của mỗi con người như tín ngưỡng, phong tục, tập quán, đạo đức, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật.) 10 Văn hóa ứng xử (đối với tự nhiên và đối với xã hội): Cộng đồng người - chủ thể văn hóa - tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường - môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu.v) và môi trường xã hội (hiểu ở đây là các xã hội, dân tộc, quốc gia).
Do đó có văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội [107, tr. Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor khái quát khái niệm văn hóa, cho rằng: “Văn hóa là tổng số sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống và thị hiếu những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” (Tạp chí Người đưa tin UNESCO, Tháng 11-1989, tr. 5) Tổng hợp các định nghĩa trên, cho thấy văn hóa bao gồm các nội dung sau: - Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra.
- Văn hóa là hoạt động của con người, yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của văn hóa. - Văn hóa là sự thể hiện trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi cộng đồng người, mỗi dân tộc. Văn hóa là sản phẩm của hoạt động người, là kết quả sáng tạo ra của nhiều thế hệ nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần không ngừng tăng lên của con người. Văn hóa bao gồm các giá trị văn hóa và hoạt động sáng tạo ra những giá trị đó.
Khi tạo ra thế giới văn hóa, con người không chỉ làm biến đổi những điều kiện khách quan, mà còn làm biến đổi chính bản thân con người, phát triển những năng lực tiềm tàng trong bản thân mình. Không chỉ có vậy, con người còn có khả năng tự đánh giá trình độ phát triển của bản thân mình thông qua các sản phẩm do chính mình tạo ra. Bởi vì trong quá trình hoạt động con người đã đối tượng hóa bản thân mình vào các giá trị ấy. Mỗi giá trị văn hóa đều hàm chứa trong bản thân nó năng lực trí tuệ, tinh thần, cảm xúc, những lực lượng vật chất nhất định.
Văn hóa là khái niệm phức tạp, cách nhìn nhận về cấu trúc của văn hóa cũng phong phú và đa dạng. Từ hướng tiếp cận của triết học, xem văn hóa như cái được sinh ra từ sự tồn tại của con người trong hoạt động thực tiễn, con người là chủ thể hoạt động và điểm khởi đầu của văn hóa, nhà triết học M.188-208] đã mô tả cấu trúc của văn hóa như “vòng xoắn chập ba” (3 thành 11 tố) gồm có: hoạt động mang tính vật thể của con người là cơ sở của văn hóa; sự giao tiếp của con người diễn ra ở bình diện không gian văn hóa và thời gian văn hóa xã hội và sự sáng tạo nghệ thuật, một phương thức để nhân đôi đời sống hiện thực của con người, tạo nên một đời sống ảo và qua “ảo” để hiểu hiện thực sâu sắc hơn. Cũng có thể xem xét văn hóa với cấu trúc gồm văn hóa sinh hoạt vật chất, văn hóa sinh hoạt tinh thần. Hoặc xem xét dưới góc độ văn hóa sản xuất, văn hóa tiêu dùng.
Văn hóa nếu tiếp cận từ những lĩnh vực cụ thể, sẽ có văn hóa doanh nghiệp, văn hóa đạo đức, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa nghệ thuật, văn hóa công sở, văn hóa trang phục, văn hóa học đường, văn hóa giao thông,… Dù được diễn đạt theo cách nào nó cũng có nội dung chung: văn hóa là sự phát triển những năng lực bản chất của con người hướng tới các giá trị nhân văn.