CHƯƠNG 1. GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỈNH QUẢNG NINH TRONG NHỮNG NĂM 2001 – 2005 1. Yếu tố tác động đến hoạt động giáo dục phổ thông tỉnh Quảng Ninh trong những năm 1986-2000 1. Khái quát về tỉnh Quảng Ninh Điều kiện tự nhiên Nhìn trên bản đồ Việt Nam giống như hình chữ S, điểm khởi đầu của hình chữ S đó chính là tỉnh Quảng Ninh.
Do điều kiện địa lý, đặc điểm về tự nhiên, kinh tế và những biến cố lịch sử mà vùng đất phía đông bắc tổ quốc đã trải qua nhiều lần quy hoạch địa giới với các tên gọi khác nhau. Năm 1963 tỉnh Quảng Ninh được thành lập với nền tảng là khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, tên của tỉnh được ghép từ hai tỉnh Quảng Yên và Hải Ninh cũ. Quảng Ninh là một tỉnh miền núi nằm trong giải hành lang Đông Bắc Việt Nam trên bờ vịnh Bắc Bộ biên giới và hải đảo, diện tích toàn tỉnh là 6.239,243 km2 trong đó diện tích đất liền là 5.938 km2, địa giới trải rộng, ngoài phần đất liền dài 168 km, rộng 84 km còn có bờ biển dài 250 km với trên 2.000 đảo lớn nhỏ[1]. Quảng Ninh có biên giới quốc gia trên đất liền và trên biển giáp với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
Phía tây giáp tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang, phía đông giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và Thành phố Hải Phòng, phía bắc giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) với cửa khẩu Móng Cái và Trinh Tường. Đường biên giới với Trung Quốc dài 132,8km. Một số hòn đảo thuộc tỉnh Quảng Ninh là: đảo Trần và quần đảo Cô Tô (thuộc huyện Cô Tô). Vùng nội thuỷ từ bắc xuống nam có những đảo chính như: đảo Vĩnh Thực, đảo Miễu, đảo Cái Chiên, đảo Thoi Xanh, đảo Vạn Vược, đảo 1 Chiếm 2/3 số đảo cả nước (2.
Tổng diện tích các đảo là 619,913 km². 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thoi Đây, đảo Sậu Nam, đảo Cái Bầu, đảo Trà Ngọ, đảo Cao Lô, đảo Trà Bàn, đảo Chén, đảo Thẻ Vàng, đảo Cảnh Cước, đảo Vạn Cảnh, đảo Cống Tây, đảo Phượng Hoàng, đảo Nấc Đất, đảo Thượng Mai và đảo Hạ Mai cùng vô số những đảo nhỏ trong vịnh Bái Tử Long và Hạ Long. Duyên hải Quảng Ninh chạy dài gần 200 hải lí từ lãnh hải Trung Quốc ở phía đông đến địa giới thành phố Hải Phòng. Tỉnh có nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng trong nước và thế giới, nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú.
Không chỉ có vậy, địa mạo Quảng Ninh rất đa dạng, diện tích đất tự nhiên 6.110km2, trong đó 2/3 là diện tích đồi núi, rừng và đất rừng, dải đồng bằng nhỏ hẹp, tỉnh có vùng biển rộng nhất trong phần Vịnh Bắc Bộ. Tính đa dạng và đặc biệt của địa hình, địa mạo là điều kiện để tỉnh phát triển một nền kinh tế đa dạng, nhiều ngành nghề. Tuy nhiên, trong 6.110km2, đồi núi chiếm trên 80% diện tích của tỉnh. Do địa hình phức tạp, đồi núi dốc, đi lại khó khăn, dân cư chủ yếu tập trung ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới.
Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền trở thành thách thức lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế, giáo dục đi lên của tỉnh đặc biệt là vùng miền núi, biên giới, hải đảo trình độ phát triển còn thấp. Trong 14 huyện, thị xã, thành phố có 8 huyện (thị xã), 112 xã, phường, thị trấn là xã miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo, với 54 xã khó khăn, trong đó có 24 xã đặc biệt khó khăn [14, tr. Truyền thống văn hóa - lịch sử Quảng Ninh là một tỉnh có bề dày về truyền thống lịch sử - văn hóa, cái nôi cư trú của người Việt Cổ, có ba nền văn hóa: văn hoá Soi Nhụ, văn hoá Cái Bèo, văn hoá Hạ Long. Hàng ngàn hiện vật tìm thấy trong các hang động của tỉnh đã chứng minh từ hàng nghìn năm trước, trên đất Quảng Ninh này đã tồn tại một nền văn hoá ở "cửa ngõ" của nền văn minh Việt cổ.
Trải qua hàng ngàn năm lao động không ngừng, lớp người cổ trên vùng đất Trung du và đồng bằng Bắc Bộ đã biết đến nghề trồng trọt và chăn nuôi. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong hơn 1000 năm của thời kỳ Bắc thuộc, Quảng Ninh lần lượt mang tên các châu quận: An Định, châu Hoàng, châu Lục, Ninh Hải, Ngọc Sơn. Dưới ách thống trị của người phương Bắc, dân bản địa phải xuống biển mò trai lấy ngọc, lên rừng săn voi bẫy thú cống nạp, phải lao động cực nhọc, chịu sự thống trị của xâm lược song không ngừng đấu tranh chống ách đô hộ, chống đồng hoá: giữ tiếng Việt, duy trì các phong tục truyền thống của ông cha. Dưới ách cai trị, nhiều tấm gương yêu nước xuất hiện như: Chu Sĩ chống ách cai trị của Thái Thú Tô Định vào những năm 30 của thế kỷ 1, nữ tướng Lê Chân chống lại ách thống trị Đông Hán, nữ tướng Thánh Thiện tấn công Mã Viện.
Ngoài những nữ tướng nói trên, vùng đất Quảng Ninh còn nhiều tấm gương oanh liệt chống giặc ngoại xâm như: chị em Nguyệt Thai, Nguyệt Độ chiến đấu dũng cảm và hy sinh ở vùng Yên Tử vào thời Trần; ba anh em họ Trương lập công xuất sắc và hy sinh ở huyện Đông Triều sau được thờ ở chùa Bắc Mã, dân gian gọi ba anh em là: Đức Cả, Đức Hai, Đức Ba. Ngày 12/3/1883, thực dân Pháp đổ quân vào Bãi Cháy, chính thức chiếm đóng vùng đất Quảng Ninh. Trong suốt thời kỳ đô hộ, thực dân Pháp luôn phải đối mặt với các phong trào cách mạng của nhân dân các dân tộc Quảng Ninh. Ngày 8/6/1945, Chiến khu Đông Triều Trần Hưng Đạo được thành lập, sau chuyển thành khu giải phóng tiến về giải phóng Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Hòn Gai, Cẩm Phả, Tiên Yên, Đầm Hà, Móng Cái.
Trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Quảng Ninh đã đánh thắng ngay trận đầu, bắn rơi 3 máy bay phản lực, bắt sống phi công Mỹ đầu tiên… Quảng Ninh còn không ngừng góp công, góp của, góp người cho tiền tuyến Miền Nam, góp phần thắng lợi vào công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Tình hình kinh tế - xã hội Quảng Ninh có 14 đơn vị hành chính gồm: 3 thành phố, 1 thị xã, 2 huyện đồng bằng và 8 huyện miền núi hải đảo cùng 186 xã, phường, thị trấn. Theo kết quả điều tra 01/04/2009 dân số tỉnh là 1.381 người, với 48,6% dân số sống ở 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành thị. Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2010 là 1.463 người trong đó nữ là 566,184 người có tỉ lệ dân số sống ở thành thị cao thứ 3 Việt Nam (sau thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng), dân số thành thị là 667.
Quảng Ninh thuộc diện tỉnh có số dân trung bình trong cả nước. Tỷ lệ tăng dân số bình quân từ năm 1999 đến 2009 là 1,3% (trung bình cả nước là 1,2%) [34, tr. Quảng Ninh đồng thời cũng là tỉnh duy nhất trong cả nước có 3 thành phố trực thuộc tỉnh. Trong những năm đổi mới, thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, tỉnh đã chủ động hợp tác trên nhiều lĩnh vực với các địa phương, doanh nghiệp của nước láng giềng Trung Quốc, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế của tỉnh phát triển trên tất cả các lĩnh vực: công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ.
Tỉnh còn có nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản, nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu, đặc biệt về trữ lượng than của cả nước thì riêng Quảng Ninh đã chiếm tới 90%, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Ninh. Với vị trí nằm trong tam giác phát triển kinh tế trọng điểm phía bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là vị trí đầu mối quan trọng, góp phần thúc đẩy kinh tế cho các tỉnh Bắc Bộ. Cùng với đó, 3 khu kinh tế: Vân Đồn, Trung tâm thương mại Hạ Long, Móng Cái trở thành đầu mối giao thương quan trọng giữa Việt Nam - Trung Quốc và các nước trong khu vực. Năm 2010, Quảng Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 7 ở Việt Nam.
Quảng Ninh xếp thứ 5 cả nước về thu ngân sách nhà nước sau thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bà Rịa Vũng Tàu và Hải Phòng. Tính đến hết năm 2010 GDP đầu người đạt 1. Quảng Ninh là một địa danh giàu tiềm năng du lịch, là một đỉnh của tam giác tăng trưởng du lịch miền Bắc Việt Nam, Quảng Ninh có danh thắng nổi 2 GDP của Hạ Long là: 3.984 USD/năm, Cẩm Phả 2644 USD/năm, Uông Bí 1. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiếng là vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và gần đây nhất đã được vinh dự công nhận là một trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giớ bởi giá trị địa chất địa mạo, trở thành địa điểm du lịch lý tưởng của du khách trên toàn thế giới.
Trong những năm trở lại đây, các ngành kinh tế của tỉnh đều đã có những bước phát triển vững chắc; sự nghiệp CNH, HĐH từng bước được đẩy mạnh, cơ sở hạ tầng KT-XH được tăng cường; công tác giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao được củng cố, xây dựng, năng lực và hiệu quả giáo dục và đào tạo, khoa học - công nghệ được nâng cao, nhân tố con người được được phát huy coi trọng; tài nguyên, môi trường sinh thái, di sản Vịnh Hạ Long và các di tích văn hoá, lịch sử được quan tâm bảo vệ và phát huy có hiệu quả; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện, các nhu cầu thiết yếu được đáp ứng ngày càng tốt hơn. Tình hình chính trị ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững tạo môi trường cho KT-XH của tỉnh phát triển ngày càng cao. Mặc dù kinh tế của tỉnh đã có những bước phát triển, nhưng chưa thật sự vững chắc. Lĩnh vực sản xuất, kinh doanh vẫn còn nhiều khó khăn cần phải tiếp tục tháo gỡ, còn 6/24 chỉ tiêu dự báo chưa hoàn thành kế hoạch; dẫn đến một số chỉ tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII đề ra khó đạt được.
Tiến độ thực hiện lập quy hoạch, xây dựng chiến lược và ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ còn chậm so với yêu cầu. Hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông và hạ tầng phát triển du lịch vẫn là nút thắt cơ bản chưa được kịp thời tháo gỡ căn cơ và bài bản.