phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục lối sống trong chƣơng trình truyền hình thực tế. Chƣơng 2: Thực trạng vấn đề giáo dục lối sống trongchƣơng trình truyền hình thực tếtrên kênh VTV3. Chƣơng 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lƣợnggiáo dục lối sống trong chƣơng trình truyền hình thực tế trên kênh VTV3. 13 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC LỐI SỐNG TRONG CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ 1.1 Một số khái niệm 1.1 Truyền hình Thuật ngữ Truyền hình - Television có nguồn gốc từ tiếng La-tinh và tiếng Hy Lạp.
Từ Tele trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là ở xa và videre của tiếng La-tinh có nghĩa là nhìn hay thấy. Ghép hai từ đó lại thành Televidere , có nghĩa là thấy đƣợc từ xa. Tiếng Anh đọc là "Television". Nhƣ vậy, nguồn gốc của thuật ngữ Truyền hình đƣợc hiểu là: Xem/nhìn đƣợc từ xa.
Còn định nghĩa dƣới góc độ kỹ thuật, Truyền hình là hệ thống phát và thu hình ảnh, âm thanh bằng những thiết bị truyền dẫn tín hiệu từ qua cáp, sợi quang và quan trọng nhất là sóng điện từ [30]. Ở Việt Nam, truyền hình đƣợc Từ điển Tiếng Việt định nghĩa "là quá trình truyền hình ảnh, âm thanh bằng sóng vô tuyến điện". Trong cuốn Giáo trình Báo chí Truyền hình của PGS.TS Dƣơng Xuân Sơn, thuật ngữ "truyền hình" đƣợc định nghĩa nhƣ sau: "Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc truyền đi xa bằng sóng vô tuyến điện". Đây là một định nghĩa khá rõ ràng về loại (phƣơng tiện truyền thông đại chúng), vai trò (đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng), hình thức thể hiện (hình ảnh và âm thanh) khác biệt đối với những phƣơng tiện truyền thông đại chúng khác (báo in, phát thanh, báo mạng.) Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng cho rằng: "Truyền hình là một loại phƣơng tiện thông tin đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh.
Nguyên nghĩa thuật ngữ "vô tuyến truyền hình" - television b t nguồn từ hai từ là "tele" - ở xa và "vision" - nghĩa là thấy đƣợc, tức 14 z là 'thấy đƣợc từ xa'". Có thể thấy định nghĩa này cũng khá đầy đủ về loại, vai trò và phƣơng thức truyền hình. Đồng thời còn thấy đƣợc truyền hình có khả năng lôi cuốn đông đảo công chúng. Khả năng này của truyền hình đƣợc lý giải bằng đặc tính của nó "thấy đƣợc từ xa".
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế hiện nay, truyền hình không còn chỉ nằm vỏn vẹn trên vô tuyến điện mà nó còn đƣợc mở rộng và xuất hiện trên những chiếc điện thoại thông minh (smartphone), máy tính hay rất nhiều thiết bị điện tử khác mà ta gọi chung là "truyền hình trực tuyến". Chính vì thế khái niệm "truyền hình" có một vài đổi khác. Tựu chung lại, truyền hình là một loại hình báo ch đặc biệt, truyền tải thông tin tới công chúng một cách tổng hợp dƣới các hình thức đa dạng nhƣ: hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, ngôn ngữ Truyền hình đã trở thành một trong số các phƣơng tiện truyền thông đại chúng (Mass Communication/Mass Media) rất phổ biến hiện nay. Chính thức xuất hiện vào thập niên 40 của thế k XX, truyền hình nhanh chóng trở thành một hiện tƣợng của làng báo chí thế giới và phát triển với nhịp độ hết sức nhanh chóng.
Ở thập k 50 của thế k XX, truyền hình chỉ đƣợc sử dụng nhƣ là công cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin. Dần dần, truyền hình đã tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hƣớng dƣ luận, truyền tải thông tin ở mọi lĩnh vực của đời sống tới mọi đối tƣợng trên phạm vi rộng kh p. Đặc biệt, với sự ra đời của truyền hình màu vào năm 1951 đã đánh dấu mốc quan trọng trong chặng đƣờng phát triển và bùng nổ của các phƣơng tiện truyền thông đại chúng thế giới. Tại Việt Nam, ngày 7/9/1970, Đài Truyền hình Việt Nam chính thức phát sóng những giờ đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của ngành Truyền hình ở Việt Nam.
Ngay lập tức, truyền hình đã tỏ rõ lợi thế cũng nhƣ tầm quan trọng của mình trong nền báo chí nƣớc nhà. Hơn 40 năm hình thành và phát triển, từ một ĐTH trung ƣơng chỉ phát sóng một kênh duy nhất, giờ đây, hệ thống truyền hình tại 15 z Việt Nam đã có tới 67 đài phát thanh - truyền hình từ trung ƣơng đến địa phƣơng với gần 100 kênh truyền hình đang phát sóng qua các loại hình công nghệ khác nhau. Từ đó cho thấy ngành Truyền hình Việt Nam hôm nay đã không ngừng lớn mạnh, đáp ứng sự tăng lên về nhu cầu thông tin trên nhiều lĩnh vực: kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của mọi đối tƣợng công chúng. Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lƣợng mà còn gia tăng cả về chất lƣợng.
Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên kh p hành tinh. Với những ƣu thế vè kỹ thuật và công nghệ, truyền hình đã và đang làm cho cuộc sống nhƣ đƣợc cô đọng hơn, ý nghĩa cuộc sống lan tỏa nhiều hơn, làm giàu thêm ý nghĩa tốt đẹp và sáng tỏ hơn về hình thức thể hiện cũng nhƣ phong phú về nội dung sản xuất. Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải có truyền hình sóng (wireless TV) và truyền hình cáp (CATV). Xét dƣới góc độ thƣơng mại có truyền hình công cộng (public TV) và truyền hình thƣơng mại (Commercial TV) Xét theo tiêu chí mục đích nội dung, ngƣời ta chia truyền hình thành truyền hình giáo dục, truyền hình giải trí.
Xét theo góc độ kỹ thuật, có truyền hình tƣơng tự (Analog TV) và truyền hình số (Digital TV). Truyền hình thực tế Theo Richard Kilborn – Trƣởng Khoa Điện ảnh và Truyền thông, Đại học Stirling (Scotland): "Truyền hình thực tế là sự tƣờng thuật lại dƣới ánh sáng những sự kiện đặc biệt, cuộc sống của một cá nhân hay một nhóm ngƣời". Hugh Dancey của Đại học Newcastle lại định nghĩa: “Truyền hình thực tế là những thƣớc phim hàng ngày về sự dũng cảm, nó dựa trên những cảm xúc chân thật của nhân vật và những hành động mang t nh ch t cá nhân”. [52] Tại Việt Nam hiện nay, khái niệm Reality show (tạm dịch là Truyền hình thực tế) ngày càng trở nên phổ biến và liên tục đƣợc nh c đến.
Nhƣng trên thực tế, Reality show chỉ là một bộ phận của Reality Television (Reality TV). Reality TV mới là tên gọi đƣợc sử dụng phổ biến trên thế giới để nói về truyền hình thực tế. Reality TV bao gồm đầy đủ các thể loại chƣơng trình truyền hình thông thƣờng nhƣ: Tài liệu (Documentary style), chƣơng trình giao lƣu tọa đàm (Talk show), chƣơng trình trò chơi (Gameshow) Có thể nói đây vừa là một loại chƣơng trình truyền hình kiểu mới, vừa là một phƣơng pháp, một hình thức thể hiện mới của các chƣơng trình truyền hình. Có khá nhiều quan niệm khác nhau đƣợc đề cập khi bàn về Reality TV.
Ch ng hạn nhƣ quan niệm của Annette Hill là giáo sƣ đồng thời là giám đốc trung tâm nghiên cứu của Đại học Truyền thông – Nghệ thuật – Thiết kế Westminster (Anh Quốc): Truyền hình thực tế bao gồm t t cả các chƣơng trình giải tr trên truyền hình về ngƣời thật. Nhiều khi thể loại này còn đƣợc gọi là truyền hình dựa trên sự thực tế (popural factual television). Truyền hình thực tế nằm trên ranh giới lãnh thổ của thông tin và giải tr , tài liệu và kịch.2] Một số nhà phê bình thế giới quan niệm Truyền hình thực tế có phần là dùng thuật ngữ sai. Theo họ những chƣơng trình kiểu này chỉ thƣờng xuyên miêu tả một cách sinh động hiện thực đƣợc biến đổi.
Trong đó, những ngƣời tham gia đƣợc đặt trong những vị trí, hoặc những tình huống khác thƣờng. Đôi khi ngƣời chơi của những chƣơng trình này còn đƣợc hƣớng dẫn cách diễn xuất bởi những nhà huấn luyện sau màn hình. Mỗi sự kiện trong từng cảnh đƣợc điều khiển một cách khéo léo bởi sự biên tập và các hiệu ứng kĩ xảo chuyên nghiệp. 17 z Truyền hình thực tế do đó chỉ là sự phản ánh tính đa nghĩa của truyền hình: nó là một sản phẩm vừa có tính hƣớng nội, vừa có tính hƣớng ngoại.
Các nhân vật trong chƣơng trình sống ở hai thế giới. Họ đi vào cuộc sống của khán giả từ một thế giới khác để rồi tham gia vào cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Chúng ta có thể chấp nhận sự thật ở hai thực tế khác nhau: thực tế nơi mà chúng ta sống và thực tế trên tivi. Thực tế thứ nhất chính là những con ngƣời và những thứ xung quanh chúng ta; và thực tế thứ hai là trong giới hạn rộng lớn của các hoạt động văn hóa truyền thông.
Một số khác lại cho rằng, tên gọi "Truyền hình thực tế" là một cách định danh sai cho một số loại chƣơng trình có tính s p đặt. Trong một số chƣơng trình nhƣ: Big Brother, Survivor hay The Real World. nhà sản xuất thiết kế một khung chƣơng trình dành riêng cho nó. Hàng ngày, họ kiểm soát những hoạt động của các nhân vật và bối cảnh xung quanh, tạo ra một thế giới tƣởng tƣợng.
Trong đó, sự cạnh tranh sẽ diễn ra. Nhà sản xuất sẽ s p đặt những nhân vật, những bối cảnh đó để kích thích những hành vi và mâu thuẫn đặc biệt. Mark Burnett - nhà viết kịch bản cho Survivor và nhiều chƣơng trình truyền hình thực tế khác cũng đồng ý với nhận định trên. Theo Mark Burnett, những chƣơng trình đó không phải là những chƣơng trình truyền hình thực tế mà là "những vở kịch không kịch bản".
Trong từ điển Longman, Truyền hình thực tế đƣợc định nghĩa "là chƣơng trình ghi lại hình ảnh những ngƣời đang làm việc thực tế (v dụ: nhân viên cảnh sát đuổi theo chiếc xe bị đánh c p) hoặc những ngƣời đã đƣợc đặt trong tình huống khác nhau và quay phim liên tục trong khoảng thời gian vài tuần hoặc vài tháng (v dụ nhƣ chƣơng trình Ngƣời gi u mặt, Cuộc đua kỳ thú. Từ điển Macmilan lại định nghĩa: 18 z Truyền hình thực tế là chƣơng trình truyền hình không sử dụng di n viên chuyên nghiệp và th y các sự kiện thực tế, các tình huống liên quan đến những ngƣời bình thƣờng" Ở Việt Nam, hiện tại chƣa có một định nghĩa chính xác cho thuật ngữ "truyền hình thực tế".