CHƯƠNG 1: CƠ LÝ L ẬN À THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài 1. Kỹ năng sống Từ năm 1996 khái niệm “kĩ năng sống” xuất hiện ở nước ta trong một số chương trình giáo dục của Unicef ở Việt Nam. Trước tiên à “chương trình giáo dục KNS (kĩ năng sống) để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AISD cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường”.
Cũng từ năm 1996 đến nay khái niệm KNS được nói tới trong nhiều chương trình, tài iệu giáo dục KNS cho học sinh trong ngành giáo dục, từ trẻ em đến người ớn trong các bậc học, cấp học khác nhau, trong hệ thống giáo dục chính quy, giáo dục thường xuyên, trong giáo dục ở gia đình cho đến giáo dục xã hội, cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng. Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) cho rằng: KNS à năng ực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày” [2;tr. Theo WHO (tổ chức y tế thế giới) (năm 1993) cho rằng: “KNS à năng ực tâm í xã hội, à khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống” [2;tr. Quan niệm này cho rằng: KNS à năng ực à cách hiểu chưa khái quát, chưa đầy đủ.
Bởi vì KNS đảm bảo cho công việc đạt kết quả ở mức độ nhất định thì năng ực đảm bảo cho công việc đạt chất ượng cao. Người có KNS chưa thể gọi à có năng ực, những KNS giúp cho con người phát triển năng ực. Có thể nói, KNS à một thành phần của năng ực. Con người muốn hoàn thành tốt một công việc nào đó thì không thể không hiểu biết về công việc đó.
Do đó muốn có năng ực trước hết phải có tri thức về công việc, nắm bắt được cách thức và điểu kiện tiến hành công việc, có nghĩa à phải có KNS. KNS à một trong những điều kiện để hình thành nên năng ực. Năng ực à một thuộc tính phức hợp, ổn định ở con người, nó chuyển biến theo trình độ 10 z nắm vững các kĩ năng. Còn KNS à một tổ hợp các kĩ năng nói ên khả năng mà con người ĩnh hội được trong quá trình nhận thức và hành động.
UNESCO (2003) quan niệm: “Kĩ năng sống à năng ực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Đó à khả năng àm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản ý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày”. Tương đồng với quan niệm của WHO còn có quan niệm KNS à những kĩ năng tâm í xã hội có iên quan đến những tri thức, giá trị và những thái độ, cuối cùng được thể hiện ra bên ngoài bằng những hành vi àm cho cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và cách thức của cuộc sống. Theo tác giả Xkomni thì: “KNS à khả năng con người thực hiện những hành vi thích ứng với thách thức và những đòi hỏi của cuộc sống.
KNS thể hiện năng ực sống của con người trong cuộc sống cá nhân, trong mối quan hệ xã hội” [27;tr. Theo tổ chức UNICEF Hà Nội năm 2004 trong một tài iệu tập huấn về KNS đã mở rộng khái niệm “KNS” “ à cách sống” và coi KNS à các khả năng cho phép con người dựa vào đó và giúp họ có khả năng giải quyết có hiệu quả với những yêu cầu cũng như thách thức của cuộc sống thường nhật, thậm chí ngay cả trường hợp khó khăn. Quan niệm này cho phép KNS bộc ộ một cách có hệ thống, inh hoạt và đem ại kết quả cho hoạt động. KNS à những kĩ năng mang tính tâm ý – xã hội và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày.
KNS còn được xem như khả năng duy trì trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần biểu hiện qua các hành vi phù hợp khi tích cực tương tác với những người khác, với những người xung quanh cũng như với nền văn hóa xã hội. KNS được hình thành chủ yếu dựa trên 11 z những KN về mặt tinh thần. Trong đó, những kĩ năng này thể hiện vai trò điều tiết cuộc sống àm cho những kĩ năng hoạt động hay những kĩ năng thể chất cũng được thực thi một cách có hiệu quả. Tiếp thu và kế thừa các quan điểm của tổ chức quốc tế, ở Việt Nam trong một số tài iệu viết về KNS, một số tác giả quan niệm về KNS như sau: Tác giả Nguyễn Thanh Bình quan niệm: “Kĩ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức – “cái chúng ta biết” và thái độ, các giá trị - “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành vi thực tế - “ àm gì và àm bằng cách nào” à tích cực nhất và tính tính chất xã hội” [3;tr.
Tác giả Huỳnh Văn Sơn trong tài iệu “Nhập môn kĩ năng sống” quan niệm: Hiểu một cách đơn giản: “KNS chính à những kĩ năng tinh thần hay những kĩ năng tâm í, kĩ năng tâm í – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống. Những kĩ năng này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội ực cần thiết để thích nghi và phát triển. KNS còn được xem xét như một biểu hiện quan trọng của năng ực tâm lí – xã hội, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống vốn chứa đựng nhiều thách thức nhưng cũng không thiếu các cơ hội” [36;tr. Đứng trên phương diện tâm í học, tác giả Nguyễn Quang Uẩn quan niệm cuộc sống của con người diễn ra bằng hoạt động sống.
Hoạt động sống diễn ra với sự đan xen của dòng “hoạt động có đối tượng” và mối quan hệ “giao tiếp ứng xử” giữa con người với con người. Hai mặt, hai phương diện nói trên đan xen, nương tựa hòa quyện vào nhau, chi phối, tác động qua ại ẫn nhau, tạo nên cuộc sống đích thực của mỗi con người trong cộng đồng. Trong hệ thống các kĩ năng cơ bản có tính tổng hợp và phức tạp của hoạt động sống của con người có kĩ năng sống. Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “KNS à một tổ chức phức tạp của một hệ thống các kĩ năng nói ên năng ực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và quan hệ với bản thân, với người khác, với xã hội có kết quả trong những điều kiện xác định của cuộc sống” [45;tr.
12 z Có rất nhiều quan niệm khác nhau về KNS, trong nghiên cứu này chúng tôi quan niệm: KNS à một tổ chức phức tạp của một hệ thống các kĩ năng nói ên khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, hành động và hoạt động sống vào thực hiện những hành động, hoạt động có kết quả trong các điều kiện khác nhau của cuộc sống”. KNS vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội. KNS mang tính cá nhân vì đó à khả năng của cá nhân. KNS mang tính xã hội vì trong mỗi giai đoạn phát triển của ịch sử xã hội, ở mỗi vùng miền ại đòi hỏi mỗi cá nhân có những KNS thích hợp.
Chẳng hạn KNS của mỗi cá nhân trong thời bao cấp khác với KNS của các cá nhân trong cơ chế thị trường, trong giai đoạn hội nhập; KNS của người sống ở nông thông khác với KNS của người sống ở thành phố; KNS của người sống ở miền núi khác với KNS của người sống ở đồng bằng. Tích hợp kỹ năng sống trong hoạt động dạy học KNS à một nội dung giáo dục hết sức quan trọng cần được thực hiện một cách hệ thống và thường xuyên trong các nhà trường. Giáo dục KNS giúp học sinh có hiểu biết và được rèn uyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng, phòng ngừa những hành vi có hại cho sức khỏe thể chất và tinh thần, tăng cường khả năng nhận thức xã hội, khả năng thích ứng với cuộc sống cũng như khả năng ứng phó inh hoạt, tích cực với những thách thức của cuộc sống hàng ngày. Việc đưa KNS vào nhà trường có ý nghĩa như một sự thức tỉnh để các nhà giáo dục chú ý nhiều hơn đến tính hữu dụng, thiết thực của chương trình nhà trường, đồng thời tăng khả năng đáp ứng yêu cầu đào tạo con người mới năng động, tích cực, tự tin, đạt được thành công trong cuộc sống hội nhập.
Môn Ngữ Văn ở trường THCS nói chung và truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục này. Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh năng ực sử dụng tiếng 13 z Việt, năng ực tiếp nhận văn bản văn học và các oại văn bản khác, môn Ngữ Văn còn giúp học sinh có được những hiểu biết về xã hội, văn hóa, ịch sử, đời sống nội tâm của con người. Với tính chất à một môn học công cụ, môn Ngữ Văn giúp học sinh có năng ực ngôn ngữ để học tập, giao tiếp và nhận thức về xã hội và con người. Với tính chất giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ Văn giúp học sinh bồi dưỡng năng ực tư duy, àm giàu cảm xúc thẩm mĩ và định hướng thị hiếu để hoàn thiện nhân cách.
Vì thế, Ngữ Văn à một môn học có những khả năng đặc biệt trong việc giáo dục các KNS cho học sinh. Điều đó thể hiện ở mục tiêu giáo dục của môn Ngữ Văn trong nhà trường THCS: - Trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, hệ thống về văn học và tiếng Việt, bao gồm: kiến thức về những tác phẩm tiêu biểu cho các thể oại tiêu biểu của văn học Việt Nam và một số tác phẩm, đoạn trích của văn học nước ngoài; kiến thức sơ giản về ịch sử văn học và một số khái niệm í uận văn học thông dụng; kiến thức về các đơn vị tiêu biểu của tiếng Việt (đặc điểm và các qui tắc sử dụng); kiến thức về các oại văn bản (đặc điểm, cách thức tiếp cận và tạo ập).