Luận văn Nông Thị Hương: GD KNGT cho trẻ MGL ở MN Ngô Quyền, Hải Phòng

Luận văn thạc sĩ: Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo lớn. Nghiên cứu tại mầm non Quận Ngô Quyền, Hải Phòng, mang lại phương pháp thực tiễn.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục

2016

109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo lớn tại Ngô Quyền

Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo lớn là quá trình rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc. Quận Ngô Quyền, Hải Phòng triển khai nhiều hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp tại các trường mầm non. Nghiên cứu của Nông Thị Hương (2016) tại Đại học Thái Nguyên đã đề cập chi tiết về vấn đề này. Giáo dục kỹ năng giao tiếp giúp trẻ hình thành nhân cách, phát triển giá trị sống tích cực. Trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi có đặc điểm tâm lý riêng biệt. Giai đoạn này trẻ phát triển mạnh về ngôn ngữ, tư duy và xúc cảm. Việc giáo dục kỹ năng giao tiếp phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ. Các trường mầm non tại Ngô Quyền áp dụng nhiều hình thức giáo dục đa dạng. Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục kỹ năng giao tiếp. Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình tạo hiệu quả cao.

1.1. Khái niệm kỹ năng giao tiếp và giáo dục kỹ năng giao tiếp

Kỹ năng giao tiếp là khả năng sử dụng lời nói, cử chỉ, biểu cảm để truyền đạt ý nghĩ, tình cảm và hiểu được người khác. Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo lớn bao gồm việc rèn luyện cách nói rõ ràng, biết lắng nghe, thể hiện cảm xúc phù hợp. Hình thức giao tiếp gồm ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Giao tiếp ngôn ngữ là giao tiếp bằng lời nói, văn bản. Giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp bằng cử chỉ, ánh mắt, ngữ điệu. Sự kết hợp cả hai hình thức tạo hiệu quả giao tiếp cao.

1.2. Vai trò của giáo dục kỹ năng giao tiếp đối với trẻ mẫu giáo lớn

Giáo dục kỹ năng giao tiếp góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ. Kỹ năng giao tiếp tạo nên những giá trị sống tích cực và tốt đẹp. Giáo dục kỹ năng giao tiếp giúp trẻ mẫu giáo lớn chủ động, tự tin trong giao tiếp. Trẻ biết cách tạo lập mối quan hệ tốt đẹp với con người và thế giới xung quanh. Kỹ năng giao tiếp tốt giúp trẻ hòa nhập với môi trường học tập. Đây là nền tảng quan trọng cho sự phát triển toàn diện của trẻ.

II. Đặc điểm tâm lý và thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp

Trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi có những đặc điểm tâm lý đáng chú ý. Ngôn ngữ phát triển mạnh mẽ, trẻ có vốn từ phong phú. Trẻ biết sử dụng câu phức tạp, diễn đạt ý rõ ràng hơn. Tư duy phát triển từ trực quan hành động sang hình ảnh và trừu tượng. Trẻ có khả năng phân biệt thực và hư, hiểu quan hệ xã hội. Xúc cảm và tình cảm ổn định hơn so với trẻ 4-5 tuổi. Trẻ xuất hiện tình cảm bạn bè, đời sống xúc cảm phong phú. Tuy nhiên xúc cảm của trẻ còn dễ dao động, mang tính chất tình huống. Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp tại Ngô Quyền còn nhiều hạn chế. Nhận thức của cán bộ, giáo viên về hình thức giao tiếp chưa đầy đủ. Chương trình giáo dục kỹ năng giao tiếp chưa được tổ chức hệ thống. Phương pháp giáo dục còn đơn điệu, thiếu sáng tạo. Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình chưa chặt chẽ.

2.1. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ và tư duy của trẻ 5 6 tuổi

Trẻ 5-6 tuổi phát triển mạnh về ngôn ngữ với vốn từ phong phú. Trẻ biết sử dụng câu phức tạp để diễn đạt ý nghĩ. Tư duy của trẻ dần mất đi tính duy kỷ, tiến đến khách quan hiện thực. Trẻ đã có tư duy trừu tượng với con số, không gian, thời gian. Các phẩm chất tư duy như tính mục đích, độc lập sáng tạo được bộc lộ. Ở giai đoạn này, tư duy hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế. Tuy nhiên tư duy hình ảnh và trừu tượng cũng phát triển mạnh.

2.2. Thực trạng nhận thức của giáo viên về giáo dục kỹ năng giao tiếp

Nghiên cứu tại các trường mầm non Ngô Quyền cho thấy 85,7% giáo viên nhận thức đúng về hình thức giao tiếp. Tuy nhiên vẫn còn 10% giáo viên chỉ chọn giao tiếp bằng ngôn ngữ. 4,3% giáo viên chỉ chọn giao tiếp phi ngôn ngữ. Nhận thức của giáo viên về mục tiêu giáo dục kỹ năng giao tiếp còn hạn chế. Giáo viên chưa nắm vững nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp. Việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp chưa đạt hiệu quả như mong đợi.

III. Giải pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp hiệu quả cho trẻ mẫu giáo lớn

Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo lớn cần đa dạng hóa phương pháp. Đóng vai là phương pháp hiệu quả giúp trẻ luyện tập giao tiếp trong tình huống thực tế. Trò chơi tạo không khí vui vẻ, khuyến khích trẻ giao tiếp tự nhiên. Kể chuyện giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, biết cách diễn đạt ý tưởng. Thảo luận nhóm rèn luyện kỹ năng lắng nghe và bày tỏ ý kiến. Giáo viên cần tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp lồng ghép trong ngày. Môi trường lớp học cần tạo điều kiện cho trẻ giao tiếp thoải mái. Giáo viên làm gương về kỹ năng giao tiếp tốt cho trẻ noi theo. Phụ huynh cần phối hợp với nhà trường để giáo dục kỹ năng giao tiếp tại nhà. Chương trình giáo dục cần có kế hoạch cụ thể, đánh giá thường xuyên. Sự sáng tạo của giáo viên là yếu tố quyết định hiệu quả giáo dục.

3.1. Các phương pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non

Phương pháp đóng vai giúp trẻ trải nghiệm các tình huống giao tiếp khác nhau. Trẻ học cách bày tỏ cảm xúc, ý kiến trong vai trò cụ thể. Phương pháp trò chơi tạo hứng thú, giúp trẻ giao tiếp tự nhiên hơn. Kể chuyện giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, biết lắng nghe và chia sẻ. Thảo luận nhóm rèn luyện kỹ năng tranh luận, bảo vệ quan điểm. Giáo dục kỹ năng giao tiếp cần lồng ghép vào mọi hoạt động trong ngày. Mỗi phương pháp có ưu điểm riêng, cần kết hợp linh hoạt.

3.2. Vai trò của gia đình và nhà trường trong giáo dục kỹ năng giao tiếp

Nhà trường cần xây dựng chương trình giáo dục kỹ năng giao tiếp có hệ thống. Giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn về giáo dục kỹ năng giao tiếp. Môi trường lớp học cần tạo điều kiện cho trẻ giao tiếp thoải mái. Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục kỹ năng giao tiếp. Phụ huynh tạo môi trường giao tiếp lành mạnh tại nhà. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình tạo hiệu quả cao. Phụ huynh khuyến khích trẻ bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc hàng ngày.

IV. Kết luận và ứng dụng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ

Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo lớn tại Ngô Quyền là nhiệm vụ quan trọng. Kỹ năng giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Giáo dục kỹ năng giao tiếp góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp cho trẻ. Trẻ biết cách xây dựng mối quan hệ tích cực với mọi người xung quanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần nâng cao nhận thức của giáo viên. Chương trình giáo dục kỹ năng giao tiếp cần được tổ chức hệ thống hơn. Phương pháp giáo dục cần đa dạng, sáng tạo và phù hợp với đặc điểm trẻ. Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình là yếu tố then chốt. Giáo viên cần được bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên. Ứng dụng thực tiễn đòi hỏi sự nỗ lực của cả hệ thống giáo dục. Giáo dục kỹ năng giao tiếp là nền tảng cho sự thành công của trẻ trong tương lai.

4.1. Ý nghĩa của giáo dục kỹ năng giao tiếp đối với sự phát triển của trẻ

Giáo dục kỹ năng giao tiếp giúp trẻ phát triển toàn diện về nhận thức và cảm xúc. Trẻ biết cách bày tỏ suy nghĩ, tình cảm một cách phù hợp. Kỹ năng giao tiếp tốt giúp trẻ tự tin trong học tập và cuộc sống. Trẻ biết cách xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè, thầy cô. Giáo dục kỹ năng giao tiếp là nền tảng cho việc hình thành nhân cách. Trẻ biết cách giải quyết xung đột thông qua giao tiếp. Đây là kỹ năng quan trọng giúp trẻ hòa nhập xã hội.

4.2. Đề xuất hướng phát triển giáo dục kỹ năng giao tiếp tại Ngô Quyền

Các trường mầm non tại Ngô Quyền cần xây dựng chương trình giáo dục kỹ năng giao tiếp bài bản. Giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng về phương pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp. Nhà trường tạo môi trường học tập thân thiện, khuyến khích trẻ giao tiếp. Phụ huynh phối hợp với nhà trường để giáo dục kỹ năng giao tiếp tại nhà. Cần có đánh giá định kỳ về hiệu quả giáo dục kỹ năng giao tiếp. Sở Giáo dục cần quan tâm chỉ đạo công tác giáo dục kỹ năng giao tiếp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/04/2026
Luận văn thạc sĩ giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non quận ngô quyền thành phố hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Ngay từ thời cổ đại, các nhà giáo dục, triết học, tâm lý học… đã quan tâm đến các vấn đề giao tiếp và có những nghiên cứu một cách tỉ mỉ về giao tiếp. Thời cổ đại Hy Lạp, vấn đề giao tiếp được một số nhà triết học chú ý nghiên cứu như Xoocrat (470 - 399 TCN) và Platon (428 - 347 TCN) "Đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người" [8].A Comenxki (1592-1670) là một nhà giáo dục lỗi lạc người Nga, ông đã đưa ra những quan điểm tiến bộ về việc giao dục trẻ em thông qua giao tiếp.

Đồng thời, ông cũng là người sáng lập ra hình thức tổ chức dạy học trường lớp, tạo môi trường giao tiếp rộng mở cho người học. Ông được coi là "ông tổ của nền sư phạm cận đại" và đã có những đóng góp lớn lao cho nền GD thế giới. Ông khẳng định "học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà còn lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ". Trong tác phẩm “Loan báo về một trường mẫu giáo” chứa đầy những tư tưởng nâng niu con trẻ.

Ông chỉ ra phương pháp “học mà chơi, chơi mà học”. Đây là một trong những phương pháp giáo dục tiến bộ phát triển khả năng giao tiếp ở trẻ. Những chỉ dẫn của ông về giáo dục thẩm mỹ, đưa âm nhạc, thơ ca, hội họa, diễn kịch… vào giáo dục trẻ em là những điều kiện mà Châu Âu phải mấy thế kỉ sau mới tiếp nhận và phổ biến.[3] Từ những năm đầu của thế kỷ 20, có nhiều nhà triết học, tâm lý học, xã hội học đã tiếp tục quan tâm đến lĩnh vực giao tiếp. Trong đó, phải kể đến Nhà triết học và tâm lý học người Mỹ G.Mit, nhà bác học người Đức C.Giaspe, nhà triết học hiện sinh Nhật Bản Mactin Babơ, nhà triết học người Pháp Gien Marơsen, nhà triết học người Nga B.

đã có những nghiên cứu một cách sâu sắc trong lĩnh vực này. Trong đó, các nhà nghiên cứu khoa học đã chú ý đến nghiên cứu hiện tượng tiếp xúc giữa con người với con người. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5 http://www.vn Bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX, hàng loạt các nhà tâm lý học hiện đại, với nhiều công trình nghiên cứu, họ đã đưa ra được phạm trù giao tiếp như là một phạm trù cơ bản. Tác giả Kak - Hai - Nơdích [12] người Đức, đã nêu rõ yêu cầu về phát triển ngôn ngữ của trẻ có một vai trò quan trọng và quá trình phát triển ở từng giai đoạn.

Trong mỗi giai đoạn đó nhiệm vụ của người lớn giúp trẻ thâm nhập vào thế giới ngôn ngữ phong phú và đa dạng, dẫn dắt trẻ từ những âm thành "gừ.gừ" ở tuổi sơ sinh đến khi sử dụng, nắm vững ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về trí tuệ. Bằng những ví dụ, cách làm cụ thể, thiết thực đã giúp các bậc phụ huynh có thêm những kiến thức cơ bản trong việc giáo dục và dạy dỗ, nắm vững ngôn ngữ giao tiếp của con em mình Với Evgrafova M. [13], Sự hình thành văn hoá giao tiếp bằng lời của trẻ em tuổi mẫu giáo lớn trên cơ sở phong tục tập quán của dân tộc là rất quan trọng. Ở đây, tác giả đã trình bày quy luật và nguyên tắc hình thành văn hoá giao tiếp bằng lời của trẻ em tuổi mẫu giáo lớn, những đặc điểm của việc hình thành văn hoá giao tiếp bằng lời của trẻ em tuổi mẫu giáo lớn trên cơ sở phong tục tập quán của dân tộc; nội dung và kỹ thuật hình thành văn hoá giao tiếp bằng lời của trẻ em tuổi mẫu giáo lớn trên cơ sở phong tục tập quán của dân tộc.

Đây chính là những tiền đề để trẻ em ở tuổi mẫu giáo lớn hình thành được kỹ năng giao tiếp trước khi bước vào lứa tuổi tiểu học. Rất nhiều trẻ mẫu giáo gặp trở ngại khi giao tiếp với bạn bè, tác giả Linda Maget đã giới thiệu những kỹ năng giao tiếp xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong việc kết giao bạn bè. Với cách trình bày của mình, tác giả Linda Maget giúp các bậc cha mẹ và trẻ học được kỹ năng giao tiếp xã hội để luôn có bạn bè, trưởng thành trong học tập và cuộc sống, đó là mục tiêu của cuốn sách muốn đem lại Cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, trước bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa, các nước đều rất quan tâm đến vấn đề giáo dục con người trong xã hội mới. Một trong bốn trụ cột của nền GD toàn cầu trong thế kỷ XXI đã được UNESCO đề xuất là “học để cùng chung sống” và được coi là một trong những trụ cột quan trọng, then chốt của GD hiện đại.

Câu hỏi đặt ra là “Kỹ năng nào là cần thiết cho mỗi con người để thành công trong công việc và cuộc sống?”, một trong những kỹ năng toàn cầu đỏi hỏi ở mỗi con người hoàn thiện là phải có “kỹ năng giao tiếp”[6] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn Kỹ năng giao tiếp và việc giáo dục kỹ năng giao tiếp có vai trò quan trọng trong việc giáo dục nhân cách con người. Các nhà giáo dục trên thế giới ngày càng quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng và kỹ năng giao tiếp cho trẻ, luôn tìm tòi để hoàn thiện trong quá trình GD và giáo dục kỹ năng giao tiếp. Ở Việt Nam Ở Việt Nam từ xưa đến nay,vấn đề giao tiếp và các mối quan hệ giao tiếp đã được coi trọng, nó được coi là nền tảng, là một trong những tiêu chuẩn, thước đo đánh giá nhân cách, đạo đức của con người. Từ trước đến nay, người Việt luôn hướng giao tiếp trong xã hội theo chủ nghĩa duy tình và nó được nâng lên thành một kiểu văn hoá giao tiếp của người Việt nhằm đảm bảo sự đoàn kết, nhất trí trong cuộc sống.

Không những thế, vấn đề giao tiếp còn là sự đúc kết kinh nghiệm trong cuộc sống và đấu tranh cho sự sinh tồn của mình. Ở nước ta, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề giao tiếp dưới góc độ tâm lý học. Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước, có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lê. được công bố, in ấn, xuất bản và áp dụng trong giáo dục, trong cuộc sống.

Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên dưới góc độ Tâm lý học, tác giả Hoàng Anh đã đề xuất quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm cho sinh viên các trường Sư phạm. Như vậy, kỹ năng giao tiếp ở đây được khai thác dưới góc độ giao tiếp sư phạm. Năm 1995, tác giả Lê Thu Thủy đã nghiên cứu quy trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa với bạn cùng lứa tuổi cho trẻ lớp 4, lớp 5 trường tiểu học. Tác giả đã nghiên cứu hành vi giao tiếp có văn hóa của trẻ dưới hai góc độ: Các nét tính cách bộc lộ qua giao tiếp và các kỹ năng giao tiếp của trẻ; thiết kế quy trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ lớp 4, lớp 5 trong phạm vi trường học.

Tuy nhiên, những hành vi giao tiếp bên ngoài trường học của trẻ chưa được quan tâm, nghiên cứu. [18] Cùng chủ đề nghiên cứu về giao tiếp ở lứa tuổi trẻ em, năm 2003, tác giả Hoàng Thị Phương [16] nghiên cứu một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 đến 6 tuổi, giao tiếp được khai thác dưới góc độ hành vi văn hóa sơ đẳng nhưng là cơ bản, phổ biến, đặc trưng cho lứa tuổi mẫu giáo lớn. Đó là những kỹ năng mang tính nền tảng làm cơ sở để GD và phát triển sau này cho trẻ thơ ở tuổi học tiểu học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn Năm 2010, tập thể tác giả do ông Nguyễn Hữu Độ, Giám đốc Sở GD- ĐT Hà Nội đứng đầu đã biên soạn tài liệu giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS Hà Nội và đã thí điểm đối với HS lớp 5 qua thực hiện các kỹ năng giao tiếp ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội.

Đây là một tài liệu có tính thực tiễn trong giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS tiểu học tại Hà Nội. Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về giáo dục, hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp được biết đến. Tác giả Ngô Giang Nam với đề tài “giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS tiểu học nông thôn miền núi phía Bắc”công bố năm 2013 đã chỉ ra những yêu cầu cấp thiết đối với việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học nông thôn miền núi phía Bắc, đối tượng ít được tiếp cận với công nghệ hiện đại, kỹ năng giao tiếp còn nhiều hạn chế [15]. Kỹ năng giao tiếp được coi là kỹ năng cơ bản đối với trẻ mầm non nói chung, đặc biệt là trẻ tự kỷ, chậm phát triển.

Tác giả Trần Thị Thủy đã hệ thống hóa những kỹ năng giao tiếp cần phát triển ở trẻ tự kỷ và biện pháp để phát triển những kỹ năng đó qua đề tài“Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi”[20]. Các công trình nghiên cứu, các bài báo cáo, sáng kiến kinh nghiệm về giáo dục kỹ năng giao tiếp ngày càng phong phú khẳng định vai trò của giáo dục kỹ năng giao tiếp đối với trẻ mầm non, tính thực tế của đề tài trong việc triển khai và nghiên cứu. Các khái niệm công cụ 1. Kỹ năng Về kỹ năng, có rất nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra những quan điểm khác nhau.

Trong đó có hai quan niệm về kỹ năng như sau: Quan niệm thứ nhất, kỹ năng được xem xét nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác hay hành động hoạt động. Quan điểm này được các tác giả V.Coovaliop, Trần Trọng Thủy nghiên cứu và chứng minh. Quan điểm thứ hai, kỹ năng được xem xét nghiêng về mặt năng lực của con người. Theo như quan niệm này thì kỹ năng vừa có tính ổn định vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và sáng tạo vừa có tính mục đích.

Đại diện cho quan điểm này có các tác giả N.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ