Mở đầu II. Phần nội dung: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục hòa nhập đối với trẻ khuyết tật tại các trƣờng mầm non. 5 Chƣơng 2: Thực trạng giáo dục hòa nhập đối với trẻ khuyết tật tại các trƣờng mầm non quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Một số biện pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục hòa nhập đối với trẻ khuyết tật tại các trƣờng mầm non quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Kết luận và kiến nghị. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HÕA NHẬP ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI CÁC TRƢỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề:. Nghiên cứu trên thế giới Những nghiên cứu đầu tiên về GDHN TKT có thể nói đƣợc bắt đầu từ thế kỷ 19.
Thời kỳ này, hai nhà giáo dục Edouard Seguin và Samuel Gridley Howe là những nhà tiên phong trong việc đƣa những phƣơng pháp mới vào điều trị và giáo dục cho trẻ khuyết tật. Hai ông đã làm việc với những trẻ vừa điếc vừa mù hoặc những trẻ vừa mù vừa bị khuyết tật trí tuệ (KTTT- thuật ngữ theo DSM - V, 2013) và những trẻ bị KTTT. Hai ông đã vận động tích cực cho quyền của tất cả những ngƣời bị áp bức, tàn tật, kể cả ngƣời KTTT. Howe đã thành lập và thử nghiệm thành công một trƣờng thí điểm cho ngƣời mất trí từ năm 1855 có tên là “Trƣờng Massachusetts cho trẻ mất trí và KTTT”.
Còn Seguin cho rằng việc tập luyện sẽ tăng cƣờng những liên kết cảm giác của các giác quan với hoạt động tinh thần và việc tập luyện với một giác quan sẽ đƣợc truyền tới một giác quan khác tạo thành một vòng tròn cảm giác - phản ánh - biểu hiện trong các hoạt động trí tuệ và hoạt động xã hội. Sau Rousseau, ông là ngƣời khẳng định rằng trẻ em cần đƣợc khuyến khích khám phá thế giới của chúng cho dù việc đó có đƣa đến nguy cơ làm hỏng một cái gì đó, nhƣ một cái thìa, đĩa, v. Năm 1848, ông sang Mỹ và đƣợc bầu làm chủ tịch đầu tiên của Hiệp hội các nhà quản lý y tế của các trung tâm cho ngƣời mất trí và KTTT Mỹ - tiền thân của Hiệp hội KTTT Hoa Kỳ (AAMR) ngày nay. Các nhà tiên phong này đã tạo nên một phong trào thành lập các trƣờng, trung tâm điều trị và giáo dục cho ngƣời KTTT sâu rộng ở Mỹ và các nƣớc ở Châu Âu và ở Nhật vào năm 1890, thành lập một cơ sở đầu tiên dành cho trẻ mất trí trong một trung tâm trẻ mồ côi.
Vào thời gian này, những nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Elwyn đã đƣa đến kết luận rằng não của những ngƣời KTTT có cấu trúc tƣơng tự những kẻ phạm tội và khái niệm về sự suy thoái đạo đức bẩm sinh theo quan điểm của quyết định luận sinh học làm hạ thấp vai trò của giáo dục và sự hƣớng thiện. Điều này dẫn tới thái độ của xã hội từ nhìn nhận ngƣời KTTT là những nạn nhân vô tội sang thành những ngƣời đáng bị khinh rẻ.[Trích theo 17] 7 Sang thế kỷ 20, là thời kỳ có nhiều tiến bộ trong các ngành khoa học nghiên cứu về KTTT. Một trong những tiến bộ quan trọng đó là có sự khác biệt giữa KTTT với bệnh thần kinh và ngƣời ta xác định đƣợc rằng có nhiều nguyên nhân gây ra KTTT cũng nhƣ có nhiều mức độ KTTT. Vào thời gian này, ngƣời ta đã xây dựng đƣợc những bài kiểm tra trí tuệ trong đó đáng chú ý là thang đo “Binet - Simon” đƣợc công bố năm 1905.
Sau nhiều năm, thang đo này đã đƣợc sửa đổi nhiều lần cho đến năm 1937, Maud Mơrill đã dựa vào thang Binet thiết lập thang sửa đổi Stanford và thang này đã trở thành tiêu chuẩn rất quý cho việc đo IQ [trích theo 34]. Tuy nhiên, từ những năm 1930, đã có một phong trào cho rằng trí tuệ của một ngƣời không hề bất biến mà rất nhiều trƣờng hợp đã tăng lên đáng kể khi con ngƣời đƣợc sống trong một môi trƣờng tốt. Những nghiên cứu và khám phá này đã mở ra một ý nghĩa mới đó là sự phản bác lại một nhận định cho rằng KTTT là một tình trạng vô vọng [ trích theo 34]. Năm 1934, Cơ quan giáo dục Hoa Kì đã tổ chức hội thảo về giáo dục trẻ khuyết tật.
Báo cáo tổng kết đã khẳng định việc giáo dục đặc biệt nên dựa vào việc giáo dục từng trẻ trên cơ sở những khả năng, hạn chế và sở thích của trẻ, hƣớng trẻ tham gia vào một số công việc của xã hội, chú ý đầy đủ tới những mối quan tâm lớn nhất của trẻ. Điều đó đã giúp xã hội nhìn nhận lại về việc giáo dục chuyên biệt trẻ khuyết tật trong các trung tâm chuyên biệt. Đến những năm 70, khái niệm bình thƣờng hoá ra đời. Biểu hiện của ý tƣởng này là phong trào xoá bỏ các trung tâm; phong trào nhận trẻ khuyết tật đang phải học trong các lớp đặc biệt vào các lớp học của trẻ cùng độ tuổi thuộc hệ thống trƣờng phổ thông đồng thời cung cấp cho những trẻ này các dịch vụ đặc biệt.
Đến năm 1990, giáo dục chuyên biệt đã bộc lộ những điểm yếu của nó. Phong trào nhân quyền cũng là một nguyên nhân nữa làm dấy lên phong trào và xu hƣớng mới đó là giáo dục hòa nhập. Tất cả trẻ em khuyết tật phải đƣợc cung cấp một nền giáo dục hợp lí dựa trên chƣơng trình giáo dục theo cá nhân trong một môi trƣờng ít hạn chế nhất. 8 Nhìn chung, các nghiên cứu tập trung ở việc nghiên cứu mô tả GDHN TKT và cách thức tổ chức, điều kiện thực hiện.
Từ đây có thể học hỏi để vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện Viêt Nam. Những nghiên cứu ở Việt Nam Giáo dục đặc biệt cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ XIX. Ngôi trƣờng đầu tiên dành cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam là trƣờng dạy trẻ điếc ở Thuận An (Sông Bé), do một linh mục ngƣời Pháp tên là Azemar thành lập cách đây trên 100 năm. [trích theo 37] Năm 1976, trƣờng dạy trẻ điếc Thuận An có quyết định chính thức trực thuộc sự quản lý của bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội, với chức năng nuôi dạy văn hoá, dạy nghề cho trẻ khiếm thính, đồng thời đào tạo và bồi dƣỡng giáo viên dạy các trẻ này.
Trƣờng thƣờng xuyên có trên 200 học sinh theo học. Năm 1995, theo Nghị định 26CP/CP là chuyển các trƣờng dạy trẻ khuyết tật sang Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý vì vậy các trƣờng dạy trẻ khuyết tật trên toàn quốc đặt dƣới sự quản lý của Bộ GD&ĐT [trích theo 37] Tuy nhiên, ở Việt Nam, trƣớc năm 1980, phƣơng pháp giáo dục cho trẻ khuyết tật chủ yếu chỉ là nuôi dƣỡng, các biện pháp y tế và giáo dục chuyên biệt thành từng trƣờng, lớp chuyên biệt cho trẻ khuyết tật chƣa đƣợc bài bản. Đến cuối những năm 80, giáo dục hội nhập và hoà nhập mới đƣợc biết đến thông qua các tài liệu, đài, báo, các cuộc hội thảo khoa học, các lớp tập huấn, các đợt thăm quan, v. Việt Nam đã học tập đƣợc kinh nghiệm từ nhiều nƣớc và đã nhận thức đƣợc quan điểm mới về tổ chức GDĐB cho trẻ khuyết tật.
Các lớp tập huấn đã giúp nhiều cán bộ nâng cao kiến thức và mở rộng hiểu biết về trẻ khuyết tật giúp chúng ta có thêm hƣớng mới nhằm đem lại một cuộc sống tốt đẹp hơn cho trẻ khuyết tật. Năm 1986, phòng giáo dục trẻ điếc thuộc Trung tâm tật học - Viện Khoa học Giáo dục đã tiến hành thực nghiệm 10 trẻ điếc ở độ tuổi 4 - 5 vào học hoà nhập với trẻ bình thƣờng trong các lớp mầm non thuộc trƣờng Mầm non A Hà Nội. Kết quả cho thấy tính ƣu việt của loại hình giáo dục hoà nhập. 9 Theo Trịnh Đức Duy, tác giả cuốn "Sổ tay giáo dục trẻ em khuyết tật ở Việt Nam" xuất bản năm 1992, giáo dục cho trẻ khuyết tật nên theo hai mô hình là chuyên biệt và hoà nhập.
Chuyên biệt là hình thức tổ chức thành trƣờng riêng biệt cho trẻ khuyết tật, có nội dung, chƣơng trình riêng. Hòa nhập là hình thức đƣa trẻ khuyết tật vào học chung với trẻ bình thƣờng, trong hoà nhập có bán hoà nhập: tổ chức cho khuyết tật học ở lớp riêng trong trƣờng phổ thông (hình thức lớp học chuyên biệt trong trƣờng bình thƣờng - giáo dục hội nhập). [17] Tháng 5 năm 1995, Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Viện Khoa học Giáo dục đã triển khai chƣơng trình giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật ở 33 tỉnh thành trong cả nƣớc, từ Mục Nam Quan (Lạng Sơn) đến mũi Cà Mau (Minh Hải), với 66 huyện, 926 xã [22] Từ năm 1995 đến năm 2000, nhiều cơ sở trong cả nƣớc đã tiến hành công tác giáo dục và nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục cho khuyết tật trong đó tiêu biểu là Trung tâm tật học Viện Khoa học Giáo dục đã tiến hành đề tài "Chƣơng trình dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ ở lớp dự bị hoà nhập”, Trung tâm nghiên cứu giáo dục trẻ khuyết tật, Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM đã nghiên cứu thành công đề tài "Biên soạn tài liệu giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ trong các trƣờng chuyên biệt tại TPHCM" [39] Năm học 1998-2001, Giáo dục Mầm non đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình can thiệp sớm và giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật mầm non tại 3 nơi: quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; huyện Bình Lục, tỉnh Nam Hà; và huyện Cam Lộ, Quảng Trị [40] Năm 2001, Khoa Giáo dục Đặc biệt (GDĐB) đầu tiên trong cả nƣớc đƣợc thành lập tại trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà nội (ĐHSPHN) với nhiệm vụ đào tạo giáo viên, chuyên gia GDĐB, xây dựng trung tâm tƣ liệu nguồn và tƣ vấn cho Bộ Giáo dục và Đào tạo và trƣờng ĐHSPHN về phát triển ngành học. Từ đó cho đến nay, nhiều Khoa GDĐB trong cả nƣớc cũng đã đƣợc thành lập đóng góp nguồn nhân lực về giáo dục đặc biệt cho cả nƣớc.
Cũng nhƣ trên thế giới, ở Việt Nam cũng chƣa các nhiều tài liệu, đề tài nghiên cứu chuyên sâu về Khoa học quản lý GDHN TKT, nhất là trong lĩnh vực GDHN TKT bậc mầm non. Đã có một số tài liệu, giáo trình về quản lý GDHN TKT nhƣ: Tài liệu tập huấn 10 cán bộ, giảng viên các trƣờng sƣ phạm Can thiệp sớm và Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật của Trần Thị Thiệp, Bùi Thị Lâm – 2005 [35], Quản lý giáo dục hòa nhập của Trần Ngọc Giao, Lê Văn Tạc – 2010 [19]; Giáo trình Quản lý giáo dục hòa nhập của Nguyễn Xuân Hải – 2010 [21];.