CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Những khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm về hành vi Khái niệm hành vi được nhiều ngành, nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, hình thành nên những quan điểm trái chiều nhau [39, tr. Dưới góc độ sinh học, hành vi được hiểu là cách sống và hoạt động trong môi trường nhất định, tạo nên sự thích nghi tối thiểu của cơ thể đối với môi trường.
Theo quan điểm của các nhà hành vi thì hành vi là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trả lời lại các kích thích tác động, nhằm thích ứng với môi trường tự nhiên và xã hội. Tuy nhiên trong quá trình đó con người đã thể hiện sự khác xa của mình so với con vật về bản chất, đó là con người đã biết lựa chọn kích thích và chỉ trả lời các kích thích có lợi cho chính bản thân mình. Còn các nhà Tâm lý học mác - xit quan niệm: hành vi con người là “cuộc sống”, “lao động”, “thực tiễn”, tức là hoạt động. Hành vi con người là biểu hiện bên ngoài của hoạt động, được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể, nó đảm bảo cho con người tồn tại và phát triển.
Hành vi của con người bao giờ cũng chịu sự quy định về mặt xã hội và có những đặc trưng của hoạt động có ý thức, tập thể, mục đích, tự do và sáng tạo. Khái niệm văn hóa Có nhiều định nghĩa về văn hoá. Năm 1952, Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn (Mỹ), đã tìm thấy không dưới 164 đinh nghĩa về văn hóa (văn hóa). Sự khác nhau của chúng không chỉ là ở bản chất của định nghĩa đưa ra (bởi nội dung, chức năng, các thuộc tính) mà cả ở cách sử dụng rộng rãi của từ này.
Tại Hội nghị Quốc tế các nhà văn học họp tại Mehico do Unesco tổ 12 chức năm 1982, trên cơ sở của 200 định nghĩa khác nhau của văn hóa, bản tuyên bố chung của hội nghị đã chấp nhận một quan niệm về văn hóa như sau: “ Trong ý nghĩa rộng nhất văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng” [Dẫn theo 38] Như vậy, dưới góc độ xã hội học thì văn hóa là một hiện tượng xã hội gắn với đời sống xã hội, còn nội dung của văn hóa chính là sản phẩm của hoạt động thực tiễn có tính sáng tạo của con người, luôn được chắt lọc kế thừa, phát triển dưới tác động của con người, vì hạnh phúc của con người. Theo những ý nghĩa đó, văn hóa là một hiện tượng xã hội đặc thù mà nét trội cơ bản của hiện tượng này là ở chỗ chúng là một hệ thống những giá trị chung nhất cả về vật chất và tinh thần cho một cộng đồng, một dân tộc, một thời đại hay một giai đoạn lịch sử nào đó, là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người trong môi trường tự nhiên và trong các mối quan hệ xã hội. Từ các nghiên cứu trên, luận văn sử dụng khái niệm văn hóa của UNESCO: “Văn hoá là tổng thể sống động những sáng tạo (của cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại.
Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống giá trị, truyền thống, thị hiếu - những đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [41]. Hành vi tham gia giao thông có văn hóa Hành vi tham gia giao thông có văn hóa là những biểu hiện bên ngoài hoạt động của con người khi tham giao thông. Là một bộ phận của văn hóa nơi công cộng và là tập hợp các cách ứng xử, xử sự và chấp hành các quy định của pháp luật về giao thông. Hành vi tham gia giao thông có văn hóa được thể hiện việc tuân thủ của các chuẩn mực đạo đức khi tham gia giao thông bao gồm chấp hành đúng, 13 gương mẫu và tự giác đối với Luật Giao thông đường bộ.
Như vậy, có thể hiểu hành vi tham gia giao thông có văn hóa được biểu hiện bằng hành vi xử sự đúng pháp luật, theo các chuẩn mực của xã hội về lẽ phải, cái đẹp, cái thiện của người tham gia giao thông. Giáo dục hành vi tham gia giao thông có văn hóa Khái niệm giáo dục: Giáo dục là một quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của nhà giáo dục đến người được giáo dục nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của người được giáo dục. Đây cũng là quá trình chuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết nhằm hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của thế hệ trẻ phù hợp với các giá trị, chuẩn mực xã hội đã quy định. Giáo dục cũng là quá trình giao tiếp hai chiều qua đó người dạy và người học cùng chia xẻ hiểu biết, kinh nghiệm và cùng học tập lẫn nhau.
Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người”. Giáo dục hành vi tham gia giao thông có văn hóa là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm hình thành ý thức, thái độ và hành vi đúng đắn, phù hợp với các giá trị, chuẩn mực xã hội khi tham gia giao thông. Ở điều kiện kinh tế xã hội và nhu cầu hiện nay, giáo dục hành vi tham giao giao thông có văn hóa cũng có thể xem là một tính cộng đồng khi tất cả các hoạt động xã hội đều có lồng ghép sự kêu gọi ý thức tham gia giao thông ở mỗi người. Ở lứa tuổi học sinh TH, giáo dục hành vi tham gia giao thông có văn hóa được hiểu là quá trình truyền đạt những kiến thức và kỹ năng cần thiết về an toàn giao thông để mỗi cá thể học sinh khi tham gia giao thông có ý thức chấp hành, tuân thủ các quy định của luật giao thông đường bộ.
Đồng thời biết cư xử theo lẽ phải, cái đẹp và cái thiện khi tham gia giao thông. 14 Như vậy, có thể thấy, giáo dục hành vi tham gia giao thông có văn hóa còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của nhà trường nhằm phát triển kĩ năng và ý thức tham gia giao thông cho học sinh. Giáo dục hành vi tham gia giao thông có văn hóa nhằm tạo nên thói quen cư xử có văn hoá, đúng pháp luật; coi việc tự giác tuân thủ pháp luật về đảm bảo trật tự an toàn giao thông như một chuẩn mực đạo đức truyền thống và là biểu hiện văn minh hiện đại của con người khi tham gia giao thông. Mỗi người khi tham gia giao thông đều phải thực hiện văn hóa giao thông bằng những việc làm cụ thể như: chấp hành nghiêm các quy định về bảo đảm trật tự ATGT, đi đúng làn đường, phần đường; tuân thủ quy định về tốc độ, dừng, đỗ xe; đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy; không vi phạm quy định về nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông; tuân thủ hiệu lệnh và chỉ dẫn của người điều khiển giao thông, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, chấp hành quy định xử phạt khi vi phạm hành chính về giao thông… 1.
Hoạt động giáo dục tập thể Hoạt động: Hoạt động là làm những việc khác nhau với những mục đích nhất định trong đời sống xã hội. Hoạt động là vận động, không chịu ngồi im. Hoạt động là vận động, vận hành để thực hiện chức năng nào hoặc gây tác động nào đó. Hoạt động là hình thức biểu hiện quan trọng nhất của mối quan hệ tích cực, chủ động của con người đối với thực tiễn xung quanh.
Theo Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt [24, tr.56], hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp): “Hoạt động giáo dục là hoạt động của nhà giáo nhằm hình thành nhân sinh quan, phẩm chất đạo đức, đồng thời bồi dưỡng thị hiếu thẫm mĩ và phát triển thể chất của học sinh thông qua hệ thống các biện pháp tác động sư phạm tới tư tưởng, tình cảm, lối sống của học sinh cùng kết hợp với các biện pháp giáo dục của gia đình và xã hội để phát huy những mặt tốt, khắc 15 phục những mặt hạn chế, tiêu cực, trong suy nghĩ, hành động của các em” Hoạt động giáo dục tập thể: Theo điều 29, Điều lệ trường Tiểu học, Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm rèn luyện đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ học sinh yếu phù hợp đặc điểm tâm lí, sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học [6]. Như vậy, có thể hiểu hoạt động giáo dục tập thể là một hoạt động giáo dục cơ bản được thực hiện trong giờ lên lớp và hoạt động giáo dục giáo dục ngoài giờ lên lớp một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức, nhằm góp phần giáo dục đạo đức, rèn luyện hành vi, phát triển năng lực học sinh, đáp ứng những yêu cầu đa dạng của đời sống xã hội. Giáo dục hành vi tham gia giao thông có văn hóa cho học sinh tiểu học trong hoạt động giáo dục tập thể 1. Đặc điểm lứa tuổi học sinh tiểu học Đặc điểm nhận thức cảm tính và lý tính: Đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh tiểu học tuy đơn giản, dễ nắm bắt nhưng rất khó định hướng và phát triển.
Chỉ cần thiếu sự kiên nhẫn và tình thương thì việc giáo dục trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn. Sự phát triển trí tuệ hay còn gọi là phát triển nhận thức của học sinh tiểu học đã được các nhà khoa học nghiên cứu và xác định hai quá trình từ cảm tính đến lý tính. * Nhận thức cảm tính là do các cơ quan cảm giác: “Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện.