Chương 1 GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO BẮC GIANG TRONG NHỮNG NĂM 1997-2003 1. VÀI NÉT VỀ TỈNH BẮC GIANG VÀ NGÀNH GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO TỈNH BẮC GIANG. Địa lý hành chính. Bắc Giang là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam có diện tích là 3.882,2 km2, dân số toàn tỉnh khoảng 1,58 triệu người (theo số liệu thống kê năm 2005) với 10 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và 9 huyện, với 229 xã, phường và thị trấn.
Bắc Giang nằm cách Thủ đô Hà Nội 51 km về phía Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị 110 km về phía Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100 km về phía Đông. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh. Bắc Giang là một vùng đất cổ, có bề dày lịch sử. Kể từ khi Thục Phán sáng lập nước Âu Lạc, kế tục nước Văn Lang các vua Hùng, Bắc Giang đã xuất hiện trên bản đồ đất nước.
Qua các thời kì lịch sử, tỉnh Bắc Giang ngày nay có nhiều tên gọi và quy mô địa giới hành chính khác nhau. Thời các vua Hùng, thuộc bộ Vũ Ninh của nước Văn Lang. Thời kì bắc thuộc, vùng đất Bắc Giang thuộc quận Tường(nhà Tần 214- 209 TCN), thuộc ba huyện Long Biên, Bắc Đới, Kê Từ (nhà Hán 111 TCN- 220), thuộc huyện Long Biên (nhà Tùy, Đường 603-905). Thời kì độc lập, các triều đại Đinh (968-980), Tiền Lê (980-1009) vẫn giữ nguyên sự phân chia cương vực như dưới thời Đường.
Triều Lý(1009- 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1225), sau khi dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Thăng Long (1010), vua Lý Thái Tổ chia đất nước thành 24 lộ, lộ Bắc Giang xuất hiện trên bản đồ nước Đại Việt gần trùng với địa giới hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay. Thời nhà Trần (1225-1400), vẫn giữ đơn vị hành chính là lộ. Lộ Bắc Giang địa giới cơ bản như thời nhà Lý. Đầu thời hậu Lê, vẫn giữ tên là lộ Bắc Giang.
Năm 1469 vua Lê Thánh Tông cho vẽ bản đồ đất nước và đổi tên đơn vị hành chính, lộ Bắc Giang đổi thành thừa tuyên Bắc Giang. Về sau, nhà Lê lại bỏ đơn vị hành chính thừa tuyên, lập đơn vị hành chính trấn. Thừa tuyên Bắc Giang đổi thành trấn Kinh Bắc. Năm 1822, nhà Nguyễn đổi trấn Kinh Bắc thành trấn Bắc Ninh.
Năm 1831, vua Minh Mạng đã tiến hành cải cách hành chính, đổi trấn thành tỉnh. Trấn Bắc Ninh đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Ngày 5-11-1889, thực dân Pháp lập ra tỉnh Lục Nam bao gồm các huyện Lục Ngạn, Bảo Lộc, Phượng Nhỡn và Yên Bác (Lạng Sơn). Tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Lục Nam ngày nay.
Sau một thời gian hoạt động, thực dân Pháp thấy đơn vị hành chính tỉnh mới này không phù hợp, vì vậy ngày 8-9-1891, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định giải tán tỉnh Lục Nam. Ngày 10-10-1895 toàn quyền Đông Dương ký nghị định thành lập tỉnh Bắc Giang gồm hai phủ Đa Phúc, Lạng Giang và 6 huyện Kim Anh, Yên Dũng, Phượng Nhỡn, Việt Yên, Hiệp Hòa, Yên Thế. Tỉnh lỵ đặt tại Phủ Lạng Thương. Ngày 8-1-1896, trả hai huyện Đa Phúc và Kim Anh về tỉnh Bắc Ninh.
Đến trước cách mạng tháng tám năm 1945, tỉnh Bắc Giang có ba phủ (Lạng Giang, Yên Thế, Lục Ngạn), bốn huyện (Việt Yên, Hiệp Hòa, Yên Dũng, Sơn Động), một châu (Hữu Lũng) với 63 tổng, 453 xã. Ngày 24-2-1942, tỉnh lỵ Bắc Giang đổi thành thị xã Phủ Lạng Thương Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, để thuận tiện cho việc chỉ đạo, tháng 7-1947, Ủy ban hành chính khu XII cắt 10 xã tả ngạn sông Lục Nam của huyện Lục Ngạn và huyện Sơn Động cùng với huyện Hải Chi (Hải Ninh) lập ra huyện Lục Sơn Hải thuộc liên tỉnh Quảng Hồng. Năm 1955, huyện Sơn Động được cắt trả lại tỉnh Bắc Giang. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngày 19-7-1956, huyện Hữu Lũng được cắt về tỉnh Lạng Sơn.
Tháng 7-1956, nhập huyện Phú Bình (Thái Nguyên) vào Bắc Giang. Ngày 27-1-1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 21-TTg, chia hai huyện Lục Ngạn, Sơn Động thành 3 huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam. Tháng 7-1957, trả huyện Phú Bình về Thái Nguyên. Ngày 6-11-1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 352-TTg chia huyện Yên Thế thành hai huyện Yên Thế và Tân Yên.
Ngày 1-10-1959, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 552-TTg đổi tên thị xã Phủ Lạng Thương thành thị xã Bắc Giang. Ngày 27-10-1962, Quốc hội khóa II nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Nghị quyết sáp nhập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Bắc Giang. Tỉnh Hà Bắc chính thức hoạt động từ 1-4- 1963. Ngày 6-11-1996, Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra nghị quyết chia tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh.
Tỉnh Bắc Giang chính thức đi vào hoạt động từ 1-1-19971. Điều kiện tự nhiên và xã hội. Bắc Giang có diện tích tự nhiên 3.823 km², chiếm 1,2% diện tích tự nhiên của Việt Nam. Theo tài liệu năm 2000, trong tổng diện tích tự nhiên của Bắc Giang, đất nông nghiệp chiếm 32,4%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm 28,9%; còn lại là đồi núi, sông suối chưa sử dụng và các loại đất khác.
Là một tỉnh miền núi, Bắc Giang có vị trí địa lý khá dộc đáo, là tụ điểm cuối cùng của các cánh cung Ngân Sơn, Yên Lạc, Bắc Sơn, Đông Triều, cũng là khởi điểm trong dải đất chuyển tiếp bắc châu thổ. Do ở giữa vùng núi và đồng bằng nên địa lý tự nhiên của Bắc Giang phong phú và đa dạng, có nhiều mặt thuận lợi cho các loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp, các nghề rừng, chăn nuôi gia súc và gia cầm. Đó là những điều kiện 1 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang: Bắc Giang những chặng đường lịch sử, tr 19. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tốt cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo nên một nền nông nghiệp hàng hóa phong phú và đa dạng.
Vốn rừng, kim loại, thủy lực…là tiềm năng quan trọng để công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bắc Giang là một miền đất cổ, có truyền thống lịch sử gắn bó cùng với cả nước trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm qua. Nơi đây là một trong những địa bàn gốc - quê hương sinh tụ và phát triển đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Thời đá cũ xa xưa đã để dấu vết ở Bố Hạ, Chũ, An Châu…con người Bắc Giang thời ấy đồng dạng về thể chất, cùng tính chất văn hóa với các tập đoàn người ở các hang động Tây Bắc, Tây Thanh-Nghệ.
Trải qua quá trình phát triển đến ngày nay đã tạo nên đặc điểm về dân cư Bắc Giang: là sự hòa quyện thành một cộng đồng thống nhất giữa người dân bản địa sống lâu đời ở địa phương với cư dân các tỉnh khác chuyển đến, giữa người kinh và các dân tộc thiểu số cùng nhau xây dựng quê hương qua các thời kỳ lịch sử. Bắc Giang từng được người xưa ví là “phên dậu”, là một trong “tứ trấn” trọng yếu của đất nước. Miền đất này từng là nơi ngăn chặn, là chiến trường lớn của quân dân cả nước chống lại những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc xưa. Sử xanh bia đá còn ghi những dấu tích lịch sử nổi tiếng như địa danh phòng tuyến sông Cầu của quân dân nhà Lý chống quân Tống; Nội Bàng, Xa Lý của quân dân nhà Trần chống quân Nguyên - Mông; Cầm Trạm - Xương Giang của quân dân nhà Lê chống quân Minh đã chôn vùi mộng xâm lăng của các đạo quân xâm lược, mãi mãi đi vào lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc.
Người Bắc Giang không chỉ có ý chí giữ nước, giữ quê hương kiên cường bất khuất, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái mà còn giỏi trồng trọt, khéo tay nghề, thạo buôn bán, năng động và giỏi thi thư. Sản phẩm thủ công nghiệp các làng Thổ Hà, Vạn Vân ngược xuôi sông Cầu cung cấp cho cả vùng đồng bằng sông Hồng. Nhiều làng ven sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam giỏi buôn bán, đi khắp các vùng trong nước. Ngay từ thời Lý-Trần, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bắc Giang đã có người đỗ đại khoa, nổi tiếng thơ văn có tiến sĩ Thân Nhân Trung, trạng nguyên Giáp Hải, trạng nguyên Đào Sư Tích… Truyền thống văn hóa của nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, là kết quả giao lưu và hội tụ với văn hóa của nhiều dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Truyền thống văn hóa của nhân dân Bắc Giang không ngừng phát huy, phát triển, kết tinh sâu đậm trong tâm hồn, khí phách của mỗi người dân Bắc Giang. Tự hào về truyền thống của quê hương, đất nước, nhân dân Bắc Giang đã và đang ra sức quyết tâm xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc. Tuy nhiên tốc độ phát triển kinh tế Bắc Giang còn chậm, tổng sản phẩm xã hội (GDP) bình quân đầu người thấp so với bình quân chung của cả nước (năm 1997 bình quân đầu người mới chỉ đạt 156USD/230USD cả nước), 1998 150 USD, 2003 khoảng 2000USD, thấp hơn so với bình quân GDP trung bình các tỉnh phía bắc 190USD (1992) và phía Nam 313 USD (1992). Nếu so với mức mà ngân hàng thế giới đưa ra để phân loại các nước và lãnh thổ là giàu hay nghèo thì Bắc Giang chưa vượt qua được hạn dưới của sự nghèo, kinh tế ở các xã vùng cao thấp, số hộ đói nghèo vẫn còn nhiều.
Thu ngân sách hàng năm trên địa bản không đủ chi, mới đảm bảo được hơn 40% nhu cầu chi, do vậy hàng năm trung ương vẫn phải cân đối cho tỉnh. Những năm vừa qua Bắc Giang đã có nhiều cố gắng khắc phục dần tình trạng trì trệ, vươn lên giành được những thành tựu quan trọng. Kinh tế tăng trưởng khá, văn hóa xã hội có bước tiến triển rõ rệt; đời sống nhân dân ổn định và được cải thiện dần; cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội được tăng thêm đáng kể. Tuy vậy Bắc Giang vẫn là một tỉnh nghèo, kinh tế phát triển chưa vững chắc, mức tăng trưởng còn thấp…các vấn đề xã hội còn diễn biến phức tạp, đời sống nhân dân thấp, kinh tế vùng cao còn khó khăn.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.