Chương 1: Đạo đức và tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay Chương 2: Thực trạng của công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh trong thời gian qua Chương 3: Nguyên nhân và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay. 6 Luan van CHƢƠNG 1 ĐẠO ĐỨC VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN HIỆN NAY 1.
Một số vấn đề nhận thức về đạo đức Là một hình thái ý thức xã hội, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử.Ăngghen đã chứng minh rằng: Trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc, bao gồm cả triết học và lý luận học, con người đã hoạt động, tức là sản xuất là sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống. “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định, tương ứng với cơ sở hiện thực đó”[10, tr. Đạo đức phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người.
Khi nói đến đạo đức là nói đến những lề thói và tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong sự giao dịch với nhau hàng ngày. Lề thói và tập tục biểu hiện thành khuôn phép và quy tắc hành vi tồn tại; những khuôn phép và quy tắc được công luận của xã hội hay một giai cấp thừa nhận. Tư tưởng chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, triết học… đều là những hình thái ý thức xã hội riêng biệt, hình thái trong lịch sử và phản ánh các lĩnh vực khác nhau của tồn tại xã hội và tác dụng riêng biệt đối với đời sống xã hội. Toàn bộ tư tưởng thể hiện trong các hình thái ý thức xã hội của một thời đại đều bắt nguồn từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ tồn tại xã hội của con người trong thời đại đó, ý thức của con người là sự phản ánh tồn tại xã hội của con người.
Các quan điểm đạo đức chính là sản phẩm của các chế độ kinh tế, các thời đại kinh tế. Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos (moris) - lề thói (moralis nghĩa là có liên quan về lề thói, đạo nghĩa). Còn “luân lý” được xem như đồng nghĩa 7 Luan van với “đạo đức” có gốc từ tiếng Hy Lạp là ethicos - lề thói, tập tục. Khi nói đến đạo đức là nói đến những lề thói, tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hằng ngày.
Sau này, người ta thường phân biệt hai khái niệm: moral là đạo đức, còn ethicos là đạo đức học. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng khi ta nói đến đạo đức là nói đến những lề thói và tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong sự giao dịch với nhau hằng ngày. Lề thói và tập tục biểu hiện thành khuôn phép và quy tắc hành vi tồn tại; những khuôn phép và quy tắc được công luận của xã hội hay của một giai cấp thừa nhận. Sự đánh giá hành vi của con người theo khuôn phép và quy tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa.
Những khái niệm này thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định. Khuôn phép và quy tắc đạo đức là yêu cầu của cả xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi của mỗi cá nhân. Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với Tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối kháng…) và đối với người khác. Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay của một giai cấp, dân tộc thừa nhận.
Quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác (khuôn phép hành vi) là tiền đề của hành vi đạo đức cá nhân. Là một thành viên của xã hội, con người phải chịu một sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong những hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của lương tâm… Cá nhân phải có trách nhiệm chuyển những đòi hỏi của xã hội và những thể hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình. Biểu hiện của sự chuyển hóa này là hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực cho phù hợp với những đòi hỏi của xã hội… Do vậy, sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện và - xét về bản chất - đạo đức là sự tự do lựa chọn của con người. Chủ nghĩa Mác -Lênin quan niệm rằng, kiến trúc thượng tầng được hình thành trên cơ sở hạ tầng và nó sẽ thay đổi theo sự thay đổi của cơ sở hạ tầng.
Kiến trúc thượng tầng liên hệ với sản xuất qua cơ sở hạ tầng và phản ánh sự biến đổi trong sản xuất. Sự biến đổi này chỉ có thể phát sinh khi đã có sự biến đổi trong cơ sở hạ tầng. 8 Luan van Kiến trúc thượng tầng cũng có tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng. Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp.
Như vậy, sự phát sinh và phát triển của đạo đức - xét đến cùng - là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định. Về cơ bản, đạo đức có những đặc trưng sau: Thứ nhất, đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người bên cạnh các phương thức khác như phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật… Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người theo khuôn phép chuẩn mực và quy tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa. Trong xã hội có giai cấp, đạo đức bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định. Những khuôn phép (chuẩn mực) và quy tắc đạo đức là yêu cầu xã của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho mỗi cá nhân.
Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội và đối với người khác. Thứ hai, đạo đức là một hệ thống các giá trị. Đạo đức là một hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực: mệnh lệnh, đánh giá rõ rệt. Các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khẳng định, hoặc là phụ định lợi ích chính đáng hoặc không chính đáng nào đó.
Có nghĩa, nó bày tỏ sự tán thành hay phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng trong một xã hội nhất định. Vì vậy, đạo đức là một nội dung hợp thành hệ thống giá trị xã hội. Sự hình thành, phát triển và hoàn thiện hệ thống giá trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức. Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì hệ thống đó có tính tích cực, mang tính nhân đạo; ngược lại, hệ thống đó mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo.
Thứ ba, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đạo đức xã hội.Đạo đức cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo, đều mang tính chất của kiến trúc thượng tầng. Chế độ kinh tế - xã hội là nguồn gốc quan điểm về đạo đức con người. các quan điểm này thay đổi cùng với sự thay đổi của cơ sở hạ tầng đã sinh ra chúng. Cơ sở kinh tế xã hội mới cũng có nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, khuôn phép hành vi mới thích ứng với nó.
Ví dụ: thích ứng với chế độ phong kiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột chặt vào ruộng đất là đạo đức xã hội nông nô. Thích ứng với chế độ tư bản dựa trên cơ sở bóc lột người công nhân làm thuê là đạo đức tư sản. Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo ra 9 Luan van một nền đạo đức mới biểu hiện mối quan hệ hớp tác trên tình đồng chí và quan hệ tương trợ lẫn nhau của những người lao động đã được giải phóng khỏi cách bóc lột. Như vậy, sự phát sinh và phát triển của đạo đức, xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định.
Trong tác phẩm Chống Đuy rinh, Ph.Ăng ghen đã khẳng định rằng, thực chất và xét đến cùng, các nguyên tắc, chuẩn mực, quan điểm đạo đức chẳng qua chỉ là sản phẩm và quan hệ tương trợ lẫn nhaucủa các chế độ kinh tế, các thời đại kinh tế mà thôi. Thứ tư, trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Tính giai cấp là một trong những biểu hiện bản chất xã hội của đạo đức. Các nhà triết học trước C.Mác và ngoài mácxít hoặc là không thấy tính giai cấp của đạo đức, hoặc là cố tình phụ nhận tính giai cấp của đạo đức.
Vì vậy, họ thường tuyệt đối hóa tinh thần nhân loại phổ biến của đạo đức và tuyên truyền cho những chuẩn mực, những giá trị đạo đức chung chung có thể áp dụng cho mọi thời đại, mọi dân tộc, mọi giai cấp. Chủ nghĩa Mác -Lênin không phủ nhận tính phổ biến toàn nhân loại của đạo đức, nhưng khẳng định rằng, trong điều kiện xã hội có giai cấp đối kháng thì không thể có một nền đạo đức chung thống nhất cho mọi giai cấp.