Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thuế giữ vai trò là nguồn thu chủ yếu, thường xuyên của ngân sách nhà nước, đồng thời là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô và thực hiện công bằng xã hội. Tại Việt Nam, sau giai đoạn áp dụng Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (ban hành năm 1990, có hiệu lực từ ngày 01/4/1991, được sửa đổi bổ sung năm 2001 và 2004), Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 ra đời (sửa đổi, bổ sung năm 2012 và 2014). Chế định giảm trừ gia cảnh lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, tạo hành lang pháp lý để chia sẻ gánh nặng tài chính với người nộp thuế. Tuy nhiên, sau nhiều năm áp dụng và trước sự biến động của kinh tế - xã hội, các quy định về mức giảm trừ, điều kiện xác định người phụ thuộc cũng như công tác quản lý thuế đã bộc lộ những hạn chế, đòi hỏi phải được nghiên cứu và hoàn thiện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành về nội dung giảm trừ gia cảnh trong thuế thu nhập cá nhân;
  2. Xác lập các yêu cầu mang tính lý luận đối với pháp luật về giảm trừ gia cảnh nhằm hoàn thiện sắc thuế và đảm bảo mục tiêu điều tiết thu nhập;
  3. Đánh giá tính hợp lý, các điểm hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và thực tiễn thi hành;
  4. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập trong quy định và áp dụng pháp luật về giảm trừ gia cảnh.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào 03 nhóm nội dung chính:

  • Cơ sở lý luận về xây dựng pháp luật thuế thu nhập cá nhân và chế định giảm trừ gia cảnh;
  • Hệ thống quy định pháp luật thực định của Việt Nam về giảm trừ gia cảnh;
  • Thực trạng áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân liên quan đến giảm trừ gia cảnh trên thực tế.

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tiếp cận chế định giảm trừ gia cảnh trong phạm vi pháp luật thuế thu nhập cá nhân Việt Nam (đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công), có đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia và cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới nhất đến thời điểm nghiên cứu (năm 2021), tiêu biểu như Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 và Thông tư số 105/2020/TT-BTC.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng lập luận dựa trên các khái niệm pháp lý, nguyên tắc lập pháp và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật sau:

  • Khái niệm và nguyên tắc pháp lý: Khái niệm "giảm trừ gia cảnh" theo khoản 1 Điều 19 Luật Thuế thu nhập cá nhân; khái niệm "chế định pháp luật giảm trừ gia cảnh" (kế thừa nghiên cứu của Nguyễn Võ Đại Minh, 2015); nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế (kế thừa nghiên cứu của Phan Phương Nam, 2006; quan điểm triết học của Immanuel Kant và chủ nghĩa thực chứng về việc đối xử như nhau với các đối tượng giống nhau và khác nhau với các đối tượng không giống nhau); nguyên tắc dung hòa lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế.
  • Hệ thống văn bản pháp luật áp dụng: Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014); Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14; Nghị định số 65/2013/NĐ-CP; Thông tư số 111/2013/TT-BTC; Thông tư số 105/2020/TT-BTC; Nghị định số 125/2020/NĐ-CP; Bộ luật Lao động năm 2019; Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Luật Ngân sách nhà nước năm 2015.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả phối hợp thực hiện:

  • Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các điều khoản trong các văn bản quy phạm pháp luật, làm rõ bản chất pháp lý của từng quy định và luận cứ khoa học.
  • Phương pháp lịch sử: Xem xét tiến trình hình thành và phát triển của quy định giảm trừ gia cảnh qua các giai đoạn (từ Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 1990 đến các sửa đổi của Luật Thuế thu nhập cá nhân).
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy định của Việt Nam với các quy định về khấu trừ, chiết trừ gia cảnh của các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước trong khu vực.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập và đối chiếu các số liệu về mức thu nhập bình quân đầu người, biến động chỉ số giá tiêu dùng (CPI), quy mô lực lượng lao động và tỷ trọng đóng góp của thuế thu nhập cá nhân vào ngân sách nhà nước.

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính; các số liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê; số liệu thu ngân sách nhà nước cùng các công trình luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và tạp chí chuyên ngành luật học, kinh tế.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về giảm trừ gia cảnh trong thuế thu nhập cá nhân

Chương 1 khái quát lịch sử hình thành sắc thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và tại Việt Nam. Trong khi nhiều quốc gia áp dụng sắc thuế này từ rất sớm (Anh năm 1798, Nhật năm 1887, Mỹ năm 1913, Pháp năm 1914), Việt Nam tiếp cận muộn hơn thông qua Pháp lệnh năm 1990 trước khi ban hành đạo luật riêng vào năm 2007.

Tác giả phân tích tác động nhiều chiều của giảm trừ gia cảnh:

  • Đối với Nhà nước: Giảm trừ gia cảnh làm giảm thu nhập tính thuế, từ đó có thể làm giảm số thu trước mắt của ngân sách, nhưng đóng vai trò nuôi dưỡng nguồn thu bền vững, tạo sự đồng thuận xã hội.
  • Đối với người nộp thuế: Giúp bù đắp chi phí tái sản xuất sức lao động, giảm gánh nặng tài chính và gia tăng thu nhập thực tế.
  • Đối với xã hội: Mang tính nhân đạo, bảo đảm truyền thống đùm bọc gia đình, khuyến khích cá nhân chăm sóc thân nhân và góp phần giảm áp lực cho hệ thống an sinh xã hội của Nhà nước.

Nội dung của chế định giảm trừ gia cảnh bao gồm 04 yếu tố cốt lõi:

  1. Thu nhập tính giảm trừ gia cảnh (thu nhập thường xuyên từ tiền công, tiền lương);
  2. Đối tượng được giảm trừ gia cảnh (bản thân người nộp thuế và người phụ thuộc);
  3. Mức giảm trừ gia cảnh;
  4. Điều kiện áp dụng giảm trừ gia cảnh đối với từng nhóm đối tượng.

Trên cơ sở đó, chương này xác lập 05 yêu cầu cơ bản đối với việc xây dựng pháp luật giảm trừ gia cảnh:

  • Đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập giữa những người nộp thuế;
  • Dung hòa lợi ích của Nhà nước và người nộp thuế;
  • Xác định đối tượng được giảm trừ gia cảnh phù hợp;
  • Mức giảm trừ phù hợp với tình hình của người nộp thuế và điều kiện kinh tế - xã hội;
  • Cơ chế quản lý về giảm trừ gia cảnh hợp lý, hiệu quả.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về giảm trừ gia cảnh trong thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy định thực định và quá trình áp dụng pháp luật về giảm trừ gia cảnh tại Việt Nam:

1. Thực trạng quy định pháp luật:

  • Thu nhập được tính giảm trừ: Áp dụng riêng cho thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú.
  • Đối tượng và điều kiện xác định người phụ thuộc: Pháp luật phân chia người phụ thuộc thành 04 nhóm (con cái; vợ hoặc chồng; cha đẻ, mẹ đẻ, cha mẹ vợ/chồng; các cá nhân khác không nơi nương tựa). Điều kiện hưởng gồm: độ tuổi, tình trạng sức khỏe (khuyết tật, mất khả năng lao động), điều kiện thu nhập (thu nhập bình quân tháng trong năm không vượt quá 1.000.000 đồng theo Nghị định 65/2013/NĐ-CP) và trách nhiệm nuôi dưỡng thực tế.
  • Mức giảm trừ gia cảnh: Trải qua các thời kỳ điều chỉnh. Gần nhất, Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 nâng mức giảm trừ cho người nộp thuế lên 11.000.000 đồng/tháng (132.000.000 đồng/năm) và cho mỗi người phụ thuộc lên 4.400.000 đồng/tháng khi chỉ số CPI biến động vượt 20%.
  • Quản lý thuế: Quy trình thủ tục đăng ký người phụ thuộc và hồ sơ chứng minh được thực hiện theo Thông tư 105/2020/TT-BTC và Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Giai đoạn văn bản Mức giảm trừ cho bản thân (đồng/tháng) Mức giảm trừ cho người phụ thuộc (đồng/người/tháng) Tiêu chí điều chỉnh / Ghi chú
Luật Thuế TNCN 2007 (hiệu lực 2009) 4.000.000 1.600.000 Áp dụng lần đầu khi ban hành Luật
Luật số 26/2012/QH13 (hiệu lực 2013) 9.000.000 3.600.000 Bổ sung quy định điều chỉnh khi CPI biến động trên 20%
Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14 11.000.000 4.400.000 Tăng tương ứng thêm 2.000.000 đ và 800.000 đ

2. Thực trạng áp dụng và những vấn đề đặt ra:

  • Quản lý dữ liệu bằng công nghệ thông tin: Việc triển khai Cổng dịch vụ công quốc gia và trang thông tin điện tử của Tổng cục Thuế giúp số hóa thủ tục. Tuy nhiên, việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung kiểm soát trùng lặp người phụ thuộc vẫn cần tiếp tục tối ưu hóa.
  • Kiểm soát thu nhập qua thanh toán trực tuyến: Thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và liên kết ví điện tử giúp minh bạch hóa các nguồn thu nhập của người nộp thuế và người phụ thuộc, hạn chế kê khai không trung thực.
  • Trách nhiệm pháp lý: Nghị định số 125/2020/NĐ-CP đã quy định chế tài xử phạt hành chính đối với người nộp thuế khi có hành vi khai sai (phạt 20% số tiền thuế khai thiếu hoặc phạt từ 5.000.000 đến 8.000.000 đồng nếu khai sai không dẫn đến thiếu số thuế). Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định cụ thể trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập (doanh nghiệp) trong việc kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký người phụ thuộc.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Làm rõ sự biến động nguồn thu và tỷ trọng thuế: Mặc dù mức giảm trừ gia cảnh được điều chỉnh tăng qua các thời kỳ, số thu thuế thu nhập cá nhân vẫn tăng trưởng từ 5 nghìn tỷ đồng (năm 2006) lên 109,4 nghìn tỷ đồng (năm 2019), chiếm tỷ trọng 7,05% tổng thu ngân sách nhà nước năm 2019, đóng góp vào tỷ trọng thuế trực thu ước đạt 38,9% cùng năm.
  • Chỉ ra các bất cập trong quy định thực định:
    • Mức trần thu nhập tối đa của người phụ thuộc (không quá 1.000.000 đồng/tháng theo Nghị định 65/2013/NĐ-CP) là quá thấp, không còn phù hợp với mức sống thực tế và chi phí sinh hoạt tối thiểu.
    • Mức giảm trừ gia cảnh cào bằng trên toàn quốc chưa phản ánh đúng sự chênh lệch chi phí sinh hoạt giữa các vùng đô thị lớn (như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh) với khu vực nông thôn, miền núi.
    • Có sự mâu thuẫn về độ tuổi lao động: Bộ luật Lao động 2019 quy định độ tuổi lao động từ đủ 15 tuổi, dẫn đến trường hợp cá nhân từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi vừa có thể là người nộp thuế vừa là đối tượng người phụ thuộc.
    • Thiếu quy định giấy tờ chứng minh thu nhập của người phụ thuộc trong thành phần hồ sơ đăng ký tại Thông tư 111/2013/TT-BTC, gây khó khăn cho việc hậu kiểm.

Đề xuất và kiến nghị hoàn thiện

  1. Nâng mức thu nhập trần dùng làm căn cứ xác định người phụ thuộc lên mức phù hợp hơn với thực tế mức sống xã hội;
  2. Bổ sung văn bản xác nhận thu nhập của người phụ thuộc do chính quyền địa phương cấp vào hồ sơ chứng minh người phụ thuộc;
  3. Nghiên cứu phương án xác định mức giảm trừ gia cảnh linh hoạt theo vùng kinh tế hoặc mức sống thực tế thay vì áp dụng một mức cố định duy nhất;
  4. Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung ngành thuế và đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt để kiểm soát chính xác thu nhập;
  5. Bổ sung quy định rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức chi trả thu nhập (doanh nghiệp) trong việc kiểm tra, đối soát hồ sơ đăng ký người phụ thuộc trước khi gửi đến cơ quan thuế.

Đóng góp về mặt học thuật

Khóa luận đã cập nhật có hệ thống các văn bản pháp luật mới đến giai đoạn 2020–2021 (Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14, Thông tư 105/2020/TT-BTC, Nghị định 125/2020/NĐ-CP), khắc phục khoảng trống của các công trình nghiên cứu trước đây (giai đoạn 2006–2015 vốn dựa trên các văn bản cũ hoặc chưa phản ánh lần điều chỉnh mức giảm trừ gần nhất).


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài chủ yếu phân tích dưới góc độ quy phạm pháp luật thực định và quy trình quản lý hành chính đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú; nghiên cứu so sánh quốc tế chỉ dừng lại ở mức tổng thuật kinh nghiệm; chưa có điều kiện thực hiện khảo sát định lượng diện rộng về mức chi tiêu thực tế của các hộ gia đình theo từng vùng miền.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Đi sâu xây dựng mô hình định lượng tính toán mức giảm trừ gia cảnh theo vùng kinh tế dựa trên chỉ số chi phí sinh hoạt; nghiên cứu giải pháp tích hợp định danh cá nhân và cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với mã số thuế phục vụ công tác quản lý giảm trừ gia cảnh tự động.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Thương mại, Luật Tài chính - Ngân sách, chuyên ngành Thuế và Quản lý công; giảng viên giảng dạy học phần Luật Thuế; cán bộ quản lý thuế và bộ phận kế toán - tiền lương tại các doanh nghiệp.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao: Hệ thống hóa các tiêu chí xác định 04 nhóm người phụ thuộc; danh mục hồ sơ chứng minh theo Thông tư 111/2013/TT-BTC và quy trình đăng ký theo Thông tư 105/2020/TT-BTC; các phân tích pháp lý về chế tài xử phạt theo Nghị định 125/2020/NĐ-CP.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu, mức giảm trừ gia cảnh là bao nhiêu?
Căn cứ Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 (áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2020), mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế là 11.000.000 đồng/tháng (132.000.000 đồng/năm) và mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc là 4.400.000 đồng/tháng.

2. Người phụ thuộc phải đáp ứng mức trần thu nhập bao nhiêu để được tính giảm trừ gia cảnh?
Theo khoản 4 Điều 12 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, cá nhân được xác định là người phụ thuộc phải không có thu nhập hoặc có mức thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng. Tác giả khóa luận đánh giá mức trần này là quá thấp và bất hợp lý so với chi phí sinh hoạt thực tế.

3. Khóa luận chỉ ra mâu thuẫn nào giữa Luật Thuế thu nhập cá nhân và Bộ luật Lao động 2019 về độ tuổi lao động?
Luật Thuế TNCN quy định con dưới 18 tuổi đương nhiên được coi là người phụ thuộc. Trong khi đó, Bộ luật Lao động 2019 quy định độ tuổi lao động là từ đủ 15 tuổi. Do đó, người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi nếu tham gia quan hệ lao động sẽ phát sinh thu nhập và trở thành người nộp thuế, dẫn đến xung đột về mặt tư cách chủ thể (vừa là người nộp thuế, vừa là người phụ thuộc).

4. Hành vi kê khai sai thông tin người phụ thuộc bị xử lý như thế nào theo Nghị định 125/2020/NĐ-CP?
Nếu khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, người nộp thuế bị phạt 20% số tiền thuế khai thiếu hoặc được miễn, giảm, hoàn cao hơn. Trường hợp khai sai nhưng không dẫn đến thiếu số thuế phải nộp thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đến 8.000.000 đồng và buộc phải khai điều chỉnh lại thông tin.

5. Doanh nghiệp (tổ chức chi trả thu nhập) có trách nhiệm gì trong việc tiếp nhận hồ sơ giảm trừ gia cảnh?
Doanh nghiệp có trách nhiệm tiếp nhận, tổng hợp hồ sơ đăng ký người phụ thuộc của người lao động (Mẫu 20-ĐK-TH-TCT theo Thông tư 105/2020/TT-BTC) để chuyển cho cơ quan thuế. Tác giả chỉ ra rằng pháp luật hiện hành chưa quy định rõ chế tài trách nhiệm của doanh nghiệp trong khâu thẩm tra tính hợp lệ của hồ sơ, dẫn đến việc kế toán tiếp nhận hồ sơ sai lệch hoặc không đủ điều kiện.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Mỹ đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng pháp lý về chế định giảm trừ gia cảnh trong thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam. Công trình chỉ rõ những bất cập về mức trần thu nhập của người phụ thuộc, tính chất cào bằng của mức giảm trừ cố định và những khoảng trống trong quy trình quản lý, xác thực hồ sơ thuế. Trên cơ sở đó, các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao năng lực quản lý thuế số hóa được đề xuất có giá trị thực tiễn, đóng góp thiết thực cho quá trình cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhân.