Chương 1: Một số van dé lý luận về giám hộ; Chương 2: Quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về giám hộ; Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giám hộ. MOT SO VAN DE LY LUAN VE GIAM HO 1. Khai niệm giám hộ Có thé thấy, trong suốt chiều dai lịch sử, bắt nguồn từ việc cần thiết, quan trọng của giám hộ, vì vậy nhiều nhà ngôn ngữ học đã thực hiện phân tích, nghiên cứu từ ngữ và đưa ra khái niệm giám hộ đưới nhiều góc độ khác nhau. Đầu tiên, về mặt ngôn ngữ đơn thuần thì thì “giám” được hiểu là việc theo đõi, kiểm tra, đôn đốc va từ “hộ” được hiểu là bảo vệ, giữ gin,> vì vậy có thé hiểu rằng “giám hộ” là hành động theo dõi, giám sát và bảo vệ của người này với người kia.
Và giám hộ vốn là một từ ngữ Hán Việt, được sử dụng từ thời xa xưa cho đến tận ngày nay. Theo Từ điển Hán Việt thì “giám hộ”(##š£) có nghĩa là “thay thế cha mẹ của đứa trẻ mé côi hoặc xa gia đình, dé coi sóc đời sống và che chở cho chúng. ”6, Hay giám hộ nguyên gốc trong Tiếng Anh là “guardianship”, guadianship trong tiếng Latin được dich là “for the purpose of the legal action only” tue là “nhằm mục dich thực hiện các hành vi pháp iy”. O đây góc độ nay, đa số giám hộ được hiểu là áp dụng cho trường hợp cha me là người có quyền đối với con chưa thành niên của minh như một người có quyền được tham gia các vụ kiện hoặc cho người đại điện của người không có khả năng.” Nếu theo nghĩa nay, giám hộ được hiểu theo nghĩa rất rộng, tức là chỉ cần người chưa có đủ năng lực hoặc người bị khiếm khuyết dan đến không thể có đủ năng lực đã được giám hộ bởi một người khác.Š Ngoài ra, trong Từ điển giải thích thuật ngữ luật hoc thì thuật ngữ “giám hộ” có nghĩa là chăm sóc, giúp đỡ và bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.” Trong đó, “người được giám hộ” là người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi), người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không 5 Trịnh Minh Hiền, (2015), Giớm hộ - Một số vấn dé lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
Tham khảo tại https://hvdic. net/hv/2i%C3%A1m%20h%E1%BB%99, truy cập ngày 12/02/2025. 7 Tham khảo tại https://dictionary.aspx?selected=233, truy cập ngày 19/03/2025. 8 Kiều Thị Thuy Linh, (2021), Ché dinh giảm hộ trong Bộ luột Dân sự năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện, Đề tài nghiên cứu khoa hoc cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
° Trường đại học Luật Ha Nội, Tx điển giải thích thuật ngữ luật học, (1999), NXB. Công an nhân dân, tr. 10 thé nhận thức, làm chủ được hành vi của mình hoặc mắt khả năng của chủ thể bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của mình, tức là không thể tự mình tao ra quyên và thực hiện quyền đó, không thé tự mình tạo ra nghĩa vụ và tự mình thực hiện nghĩa vụ đó, không có khả năng tự chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả của hành vi ké cả hành vi bat hợp pháp. Theo đó có thể hiểu người giám hộ là chủ thé đảm nhận việc chăm sóc, quan ký tài sản, thực hiện các quyền dan sự, bảo vệ quyền, lợi ich hợp pháp của người được giám hộ (người chưa thành niên, mat nang lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi).
Không chỉ về mặt ngôn ngữ học, khái niệm gidm hộ cũng được các nhà làm luật đưa ra đưới góc độ pháp lý. Bắt nguồn từ sự quan trọng của việc giám hộ, có thê thấy chế định giám hộ đã xuất hiện từ rất sớm. Các thiết chế về giám hộ được quy định và cũng góp phần định nghĩa giám hộ trong các quy định đó. Ngay từ thời La mã cô đại, giám hộ đã là một chế định quan trọng, có mục đích hỗ trợ các cá nhân vì lứa tuổi hay giới tính mà không tự độc lập tham gia vào hoạt động pháp lý do có những hạn chế năng lực hành vi.
Các chế định về giám hộ trong Luật La Mã đã được quy định tương đối cụ thể như sau: Trẻ em đưới 07 tuổi (infates) không có năng lực hành vi không được tham gia và thực hiện các giao dich dân sự, trừ những giao dịch phục vu cho nhu cầu cần thiết và phù hợp lứa tuổi. Luật quy định trẻ em trong độ tuổi này buộc phải đặt đưới sự giám hộ của người trưởng thành (Tutor). Đối với người từ 07 tuổi đến 14 tuổi đối với nam, 12 tuôi đối với nữ thì có năng lực hành vi một phần, được tham gia thực hiện những giao dịch bảo đảm, duy trì được lợi ích của mình. Khi thực hiện một giao dịch mà phát sinh một nghĩa vụ hay châm đứt một quyền phải được sự đồng ý của gia chủ hoặc người đỡ đầu vào thời điểm thực hiện giao dịch đó.
Như vậy, những người ở độ tuổi trên phải đặt dưới sự giám hộ. Việc giám hộ không áp dụng đối với người đã trưởng thành (người có Sui luris — năng lực pháp luật độc lập) mà chỉ áp dụng đối với Sui luris chưa có đủ năng lực hành vi dân sự, cân phải có người đã trưởng thành là người giám hộ. Luật La Mã còn II quy định những người tuy trưởng thành (đủ 14 tuổi đối với nam, 12 tuổi đối với nữ) mà mắc bệnh tâm thần là những người không có năng lực hành vi, vì hộ không thé nhận thức và làm chủ hành vi của minh trong các quan hệ xã hội, những người đó được gọi là furiosi. Và những người được xác định là furlosi đều phải đặt đưới sự giám hộ của người trưởng thành khác (curatela).
Có thé thấy rằng, ngay từ thời La Mã, pháp luật về giám hộ đã được quy định một cách toàn điện và đầy đủ, qua đó thể hiện trình độ pháp lý tương đối cao của người La Mã cô dai. Về mặt thuật ngữ Luật dân sự thì giám hộ là “việc chăm sóc, quản lý tài san, thực hiện các quyền dân sự, bao vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.”H Tùy từng góc độ mà khái niệm về giám hộ có cách giải nghĩa khác nhau nhưng có thé thấy những định nghĩa trên đều lý giải về mặt bản chất của giám hộ, đó là việc một người này thực hiện việc trông nom, chăm sóc, giúp đỡ và bảo vệ quyên, lợi ích của một người khác. Tại Việt Nam, định nghĩa giám hộ được ghi nhận và được luật hóa từ rất sớm. Trong Hoàng Việt luật lệ năm 1936 (hay còn gọi là BLDS Trung Kỳ năm 1936) đã quy định: “Quyền giám hộ là theo pháp luật dé bảo hộ những con cái vị thành niên m6 côi cha hay mồ côi cha và mẹ.
Mục đích của quyền giám hộ là dé trong nom bản thân cho người vị thành niên, néu người ấy có tài sản riêng, thì lại phải quản trị tài sản cho nó nữa” (Điều 221). Còn trong BLDS Bắc Kỳ thì ghi nhận: “Quyền giám hộ là trong nom sinh mệnh và quản trị tài sản cho người vị thành niên” (Điều 225) và “khi người cha chết thì quyền giám hộ các con đẻ và các con nuôi, cùng ở một gia đình chính, tự nhiên chiều luật thuộc về người mẹ còn lại” (Điều 226). Trong BLDS Bắc Kỳ không ghi nhận nội hàm giám hộ nhưng ghi nhận quyền giám hộ của cha, mẹ với con chưa thành niên hoặc ông bà với cháu chưa thành niên.!2 !0 Trịnh Minh Hiền, (2015). !! Pham Thi Trinh, (2017), Giám hộ theo Bộ luật dén sự năm 2015, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Dai học Luật Hà Nội, tr.
!2 Kiều Thị Thùy Linh (2021), tldd, tr. l2 Sau các cuộc cải cách cách mạng và thống nhất đất nước, BLDS năm 1995 là bộ luật đân sự đầu tiên được Quốc hội Đảng cộng sản xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua, đánh dấu lần đầu tiên khái niệm giám hộ được quy định dưới góc độ của luật dân sự, theo đó tại Khoản 1 Điều 67 BLDS năm 1995 quy định: “Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức hoặc co quan nhà nước (gọi là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ich hợp pháp của người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình (gọi là người được giám hộ)”. Tại điều khoản trên, có thê thấy Bộ luật đã chỉ ra khái niệm giám hộ bao gồm hai đối tượng là người giám hộ và người được giám hộ, trong đó người giám hộ bao gồm ba chủ thê có thể là cá nhân, t6 chức hoặc cơ quan nhà nước, còn người được giảm hộ bao gồm ba chủ thể là người chưa thành niên, người bi bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thê nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Khái niệm trên cũng đưa ra phương thức xác lập giám hộ là theo luật định hoặc được cử và quy định khái quát về trách nhiệm của người giám hộ là phải chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Sau 10 năm áp dung và thực thi BLDS năm 1995, tới năm 2005, BLDS năm 2005 ra đời và đã có sự thay đổi về mặt nội dung so với Bộ luật trước đó, cụ thé tại Khoan 1 Điều 58 BLDS năm 2005 đã quy định về giám hộ như sau: “Giám hộ là việc cá nhân, tô chức (sau đây gọi chung là người giảm hộ) được pháp luật quy định hoặc được cứ đề thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyén, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mat năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ) ”. Và tại BLDS năm 2015 đang hiện hành thì “Gidm hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhán dân cấp xã cứ, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) dé thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mat năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm 13 chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ”.