CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM ĐỐC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO 1. Khái niệm, đặc điểm giám đốc thẩm vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân cấp cao 1. Một số khái niệm chung Khái niệm giám đốc thẩm Thủ tục giám đốc thẩm là thủ đặc biệt trong pháp luật tố tụng và tổ chức hệ thống tòa án ở các nước Civil law (thuộc hệ thống Dân luật hay châu Âu lục địa). Cụ thể, hệ thống tòa án các nước Civil law được tổ chức theo hai cấp xét xử gồm cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.
Mặc dù theo mô hình tổ chức tòa án theo hai cấp xét xử cũng thường được phân chia thành 3 tầng khác nhau bao gồm: tầng thứ nhất là các tòa sơ thẩm; tầng thứ hai là các tòa phúc thẩm; tầng thứ ba là tòa tối cao thực hiện chức năng phá án theo thủ tục giám đốc thẩm. Chức năng giám đốc thẩm được giao cho Tòa án tối cao ở các quốc gia này, nó có đặc trưng khác với chức năng phúc phẩm cuối cùng của các Tòa án tối cao ở các nước Common law (thuộc hệ thống Thông luật hay còn gọi là Anh - Mỹ). Khi giải quyết các vụ việc theo thủ tục giám đốc thẩm, tòa tối cao ở các nước Civil law thường chỉ có quyền năng công nhận hoặc hủy bỏ các quyết định của các tòa cấp dưới. Trong khi đó, tòa tối cao ở các nước Common law có quyền năng giải quyết trực tiếp các vụ việc khi xét xử phúc thẩm mà không cần đưa trở về các tòa cấp dưới để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại.
Mặc dù các tòa tối cao ở các nước Civil law chỉ giải quyết theo thủ tục giám đốc đối với các vụ việc thuộc về vấn đề pháp lý, nhưng thực tế rất khó phân biệt giữa loại vụ việc thuộc về vấn đề pháp lý và loại vụ việc thuộc về vấn đề sự kiện. Vì vậy, các tòa tối cao ở các nước Civil law thường lại trở thành “cấp xét xử thứ ba” để sửa sai cho các tòa cấp dưới khi giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm đối với các vụ việc thuộc về vấn đề sự kiện. Mô hình tổ chức tòa án ở các nước Civil law thường tổ chức theo mô hình phi tập trung, thường có sự phân biệt giữa hai nhánh tòa án là tòa án tư pháp và tòa hành chính. Ví dụ, ở Pháp có tách biệt giữa Tòa tối cao tư pháp (De cour 9 Cassation) và Tòa hành chính tối cao (Conseil d’ Etat).
Nên có sự khác biệt trong thực hiện các quy định về tố tụng cho thủ tục giám đốc thẩm vụ án hành chính và các vụ án tư pháp khác. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học không có cụm từ “giám đốc thẩm” mà chỉ giải nghĩa từ “giám đốc” là đôn đốc và giám sát còn “thẩm” là xét kỹ1. Theo Từ điển Pháp - Việt danh từ “cassation” có nghĩa là sự phá án2; còn từ điển Anh - Việt lại giải nghĩa danh từ “cassation” có nghĩa là sự huỷ bỏ3. Từ góc độ khoa học pháp lý, giám đốc thẩm là một giai đoạn tố tụng có mục đích kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các tòa án cấp dưới4.
Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án”5. Còn theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn thì “Giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình nhằm xác định và khắc phục những vi phạm, sai lầm nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án dựa trên những căn cứ kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị theo qui định của pháp luật”6. Theo tác giả Nguyễn Văn Huy, “hoạt động giám đốc xét xử chính là sự kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án cấp trên đối với cấp dưới, thông qua đó mà uốn nắn, sửa chữa hoặc hủy bỏ những sai lầm, nhằm bảo đảm cho Tòa án các cấp áp dụng đúng đắn và thống nhất pháp luật. Thông qua hoạt động này, Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị với Quốc hội sửa đổi bổ sung kịp thời Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự, kiến nghị với cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp quy của cơ quan tổ chức mình trong việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, cho phù hợp với các quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Cũng thông qua hoạt động giám đốc xét xử mà Tòa án bảo đảm 1 Viện ngôn ngữ học (1998), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 2 Viện ngôn ngữ học (1997), Từ điển Pháp - Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 3 Viện ngôn ngữ học (1998), Từ điển Anh - Việt, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.Zovkin và tập thể tác giả, bản dịch Tiếng Việt của Nguyễn Quốc Việt, Đinh Thế Công, Nguyễn Bình (1987), Thuật ngữ pháp lý phổ thông, tr. 88, Nxb Pháp lý, Hà Nội.
5 Đinh Văn Quế (1999), Thủ tục giám đốc thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 6 Nguyễn Văn Tuấn (2017), Giám đốc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tr. 12 10 quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức xã hội và của mọi công dân; góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” 7. Pháp luật tố tụng Việt Nam quy định về giám đốc thẩm trong các vụ án tư pháp hành chính cũng giống như các nước Civil law.
Cụ thể, khái niệm “giám đốc thẩm” xuất hiện trong các Luật tố tụng hiện nay như sau: - Điều 325 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ quy định tại Điều 326 của Bộ luật này”. - Điều 370 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm nghiêm trọng trong việc giải quyết các vụ án”. - Điều 254 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ quy định tại Điều 255 của Luật này”. Như vậy, có thể nói, thủ tục giám đốc thẩm không chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hành chính mà còn có trong tố tụng dân sự và tố tụng hình sự.
Khái niệm giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự nhấn mạnh kháng nghị giám đốc thẩm khi “có vi phạm nghiêm trọng trong việc giải quyết các vụ án”, trong khi đó, khái niệm giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự và tố tụng hành chính nhấn mạnh kháng nghị giám đốc thẩm khi “khi có căn cứ” theo quy định của pháp luật tố tụng. Theo tác giả, khái niệm giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự và tố tụng hành chính hợp lý hơn so với tố tụng hình sự bởi dựa theo các căn cứ kháng nghị còn thuật ngữ “vi phạm nghiêm trọng” cần phải suy luận mà không có quy định trực tiếp trong pháp luật tố tụng. Mặc dù, có sự khác biệt trong các luật tố tụng, nhưng có thể nêu khái quát khái niệm giám đốc thẩm như sau: “Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị khi có căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng”. 7 Nguyễn Văn Huy (2008), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội.
11 Hoạt động xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bao gồm các nội dung: hoạt động thẩm tra, xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án hoặc quyết định đó có phù hợp với các quy định của pháp luật; quá trình giải quyết vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng có tuân thủ những quy định của luật tố tụng hành chính. Khái niệm giám đốc thẩm vụ án hành chính Vụ án hành chính là vụ việc phát sinh khi cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu tòa án xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính. Xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là một thủ tục đặc biệt của tố tụng hành chính trong đó có thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm. Lý do coi giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt của tố tụng hành chính bởi lẽ giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử như cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm.
Qua những phân tích nêu trên có thể hiểu một cách khái quát về thủ tục giám đốc thẩm vụ án hành chính như sau: “Giám đốc thẩm vụ án hành chính là một thủ tục đặc biệt nhằm xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015”. Khái niệm giám đốc thẩm vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân cấp cao Điều 3 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2015 và thay thế cho Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002) quy định hệ thống Toà án nhân dân ở nước ta sẽ gồm bốn cấp: - Tòa án nhân dân tối cao; - Các Tòa án nhân dân cấp cao; - Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; - Các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; - Các Toà án quân sự. 12 Hiện nay, ở nước ta có ba TANDCC là TANDCC tại Hà Nội, tại Đà Nẵng và tại TP. Hồ Chí Minh trên cơ sở của ba Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội, tại Đà Nẵng và tại TP.
Hồ Chí Minh.