Chương 1: Cơ sở lý thuyết về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới va công tác giám định- bôi thường bảo hiém trách nhiệm dan sự Chương 2: Thực trạng công tác giám định- bồi thường bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới tai Văn phòng kinh doanh 2 Hà Nội — Bao hiểm Phi nhân thọ Cathay Việt Nam Chương 3: Giải pháp phát triển công tác giám định- bồi thường bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự bắt buộc tại Văn phòng kinh doanh 2 Ha Nội — Bao hiểm Phi nhân thọ Cathay Việt Nam Trong thời gian thực tập tai VPKD 2 Hà Nội — Bảo hiểm Phi nhân thọ Cathay Việt Nam, em xin gửi lời cảm ơn đến anh Hồ Ngọc Tiện — Giám đốc VPKD 2 và các anh/chị trong phòng kinh doanh là những người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập, chỉ bảo tận tình và tạo điều kiện cho em được tiếp xúc công việc thực tế trong công việc văn phòng của một doanh nghiệp bảo hiểm. Bên cạnh đó là tạo điều kiện giúp đỡ em trong việc tổng hợp số liệu, các kĩ năng làm việc thực tế để em có thể hoàn thiện chuyên đề thực tập của mình một cách thuận lợi nhất. Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo trường Đại học Kinh tế Quốc Dân đã cung cấp cơ sở kiến thức về kinh tế - xã hội và ngành bảo hiểm. Em xin gửi lời cảm ơn đến giảng viên hướng dẫn ThS.
Nguyễn Thành Vinh đã trực tiếp định hướng và chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình thực tập dé em có thé hoàn thành luận văn này. Do còn nhiều hạn chế về thời gian cũng như trình độ chuyên môn nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp từ các thầy cô dé bài viết được hoàn thiện hon. Em xin chân thành cảm ơn.
CƠ SỞ LY THUYET VE GIÁM ĐỊNH, BOI THUONG BAO HIEM TRACH NHIEM DAN SU BAT BUỘC CUA CHỦ XE CƠ GIỚI 1. Khái quát về BH TNDS bắt buộc của chủ xe cơ giới 1. Khái quát về TNDS 1. Khái niệm Hiện nay, tuy rằng chưa có điều khoản cụ thé nào trong luật quy định về khái niệm TNDS nhưng đứng trên góc độ các nhà luật học, họ đều có những quan điểm và cách hiểu tương đối giống nhau về TNDS.
Cụ thé: Trong cuốn “ Những van dé cơ bản và thuật ngữ của BLDS”, TNDS được hiểu theo nghĩa rộng là “các biện pháp có tính cưỡng chế được áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị vi phạm”. Còn theo nghĩa hẹp, cuốn sách này cho rằng TNDS là “các biện pháp có tính cưỡng chế áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác, người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm khắc phục những hậu quả xấu xảy ra bằng tài sản của mình”. Mặt khác, cuốn “Từ dién giải thích thuật ngữ luật học” cũng đưa ra khái niệm: “ TNDS là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tôn that vật chat, tinh thần cho người bi thiệt hại”. Như vậy, các nhà Luật học đều có chung quan điểm cho răng TNDS là một loại trách nhiệm pháp lý, tức là một chủ thể khi có hành vi vi phạm pháp luật sẽ phải gánh chịu những hậu quả bắt lợi theo quy định của pháp luật, cụ thê là nghĩa vụ phải bồi thường cho người bị tổn hại do hành vi đó gây ra.
Vì được coi là một loại trách nhệm pháp lý nên TNDS cũng có các đặc điểm như trách nhiệm pháp lý, bao gồm: (1) chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm pháp luật và chỉ áp dụng đối với người có hành vi vi phạm đó; (2) là một hình thức cưỡng chế nhà nước và do cơ quan nhà nước có thâm quyền áp dung; và luôn mang đến hậu quả bắt lợi cho người có hành vi vi phạm pháp luật (3). Phân loại TNDS Nhìn chung, có rất nhiều quan điểm phân loại TNDS khác nhau tùy theo chủ đích của người nghiên cứu. Tuy nhiên, trong phạm vi bài báo cáo này, tôi sẽ tiếp cận cách phân chia TNDS theo 2 loại là TNDS trong hợp đồng và TNDS ngoài hợp đồng. TNDS trong hợp đồng là trách nhiệm pháp lý phát sinh giữa các bên có quan hệ hợp đồng.
Hành vi vi phạm là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không day đủ các điều khoản, nghĩa vụ trong hợp đồng. Ngược lại, TNDS ngoài hợp đồng là trách nhiệm pháp lý phát sinh giữa các bên không có quan hệ hợp đồng, tức là trách nhiệm này sẽ phát sinh giữa các chủ thể bất kỳ. Hành vi vi phạm là hành vi xâm phạm đến tài sản và quyền thân nhân của chủ thê khác. Sự khác biệt giữa 2 loại TNDS này được thể hiện thông qua bảng so sánh sau: Tiêu thức TNDS trong hợp đồng TNDS ngoài hợp đồng ¬ Sa SẺ xxx „| Ngoài thiệt hại về vật Việc xác định thiệt | - Chủ yêu là thiệt hại vê vật Le pte SA ;.
chât còn có thiệt hại vê hại chât tinh thần ¬ oy gs - Phát sinh kê từ thoi điêm có. 2, vẻ Thời diém xác định R ma i. - Phat sinh kê từ thười : ¬ hợp đông có hiệu lực và có af ` % trách nhiệm bôi a - điêm xảy ra hành vi gây bên vi phạm nghĩa vụ hợp thường ` thiệt hại đông - Không chỉ do pháp luật quy Căn cứ xác định định mà các bên có thé thỏa | - Dựa trên các căn cứ do TNDS thuận trong hợp đồng các pháp luật quy định căn cứ khác tee oo, - Các bên thường có thỏa a " Các biện pháp bảo TỐ y2 Ty gs - Không áp dụng biện „ thuận các biện pháp bảo đảm a dam. R pháp bảo đảm kèm theo hợp đông 1.
Khái quát về bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe cơ giới 1. Khái niệm Như đã đề cập, TNDS là phần trách nhiệm pháp lý mà một chủ thể phải gánh chịu theo quy định của pháp luật do có hành vi vi phạm pháp luật ( nghĩa vụ phải bồi thường cho người bị tổn hại ). Theo đó, bảo hiểm TNDS bắt buộc của chủ xe cơ giới là một loại hình bảo hiểm ma DNBH cam kết bồi thường phan trách nhiệm dân sự mà người được bảo hiểm có nghĩa vụ phải trả cho những thiệt hại về người và tài sản phát sinh từ những rủi ro bất ngờ trong quá trình hoạt động của xe cơ giới. Hay nói cách khác, các chủ xe cơ giới khi tham gia vào loại hình bảo hiểm này sẽ chuyên giao phần trách nhiệm dân sự của mình (mà chủ yếu là trách nhiệm bồi thường) cho doanh nghiệp bảo hiểm với điều kiện phải đóng một khoản phí tương ứng.
Đặc điển bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe cơ giới Tại Việt Nam, bảo hiém trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe cơ giới có một sô đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, tương tự như nhiều quốc gia khác trên thế giới, tại Việt Nam đây là một loại hình bảo hiểm bắt buộc. Với đặc tính cơ động cao và linh hoạt, việc vận chuyên, đi lai bằng xe cơ giới ngày càng phổ biến và được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, đây cũng là hình thức có mức độ nguy hiểm và khả năng gây tai nạn rất cao do số lượng xe nhiều, bất cập về chất lượng, hệ thống đường xá xuống cấp,. Khi xảy ra tai nạn, thường các chủ xe sẽ không có đủ kha năng tài chính dé bồi thường cho những thiệt hại mà mình đã gây ra, chính vì thế mà pháp luật buộc các chủ thê phải mua bảo hiểm TNDS bắt buộc.
Mục đích của việc đặt ra chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS đối với các chủ xe cơ giới là nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của những người bị thiệt hại về thân thê và tài sản do xe cơ giới gây ra, đồng thời giúp chủ xe cơ giới khắc phục được hậu quả tài chính, góp phần ồn định kinh tế xã hội. Thứ hai, bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới là một hình thức bảo hiểm TNDS phát sinh ngoài hợp đồng — tức là chủ thê gây thiệt hại có thé là bất cứ cá nhân nào, thậm chí cả súc vật, đồ vật của người đó. và người bị thiệt hại không thê biết trước ai sẽ bồi thường cho mình khi chưa có sự kiện làm phát sinh TNDS. Thứ ba, thời han bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới ngắn, thường là một năm.
Thứ tư, bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới có áp dụng hình thức thế quyền - tức là chuyển quyền đòi bồi thường từ người gây lỗi sang cho DNBH. Doanh nghiệp bảo hiểm cam kết thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người thứ ba thay cho người được bảo hiêm nêu có sự kiện bảo hiém xảy ra trong thời hạn hợp đồng, còn bên tham gia có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm Thứ năm, bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới chỉ chịu trách nhiệm bồi thường về mặt kinh tế, không bao gồm các trách nhiệm khác như trách nhiệm hình sự, hành chính. Các điêu kiện phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới Dé xác định xem nha bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường hay không cần xác định có sự phát sinh TNDS của chủ xe cơ giới trong vụ tai nạn hay không. Trách nhiệm bồi thường của nhà bảo hiểm thường phát sinh đồng thời với trách nhiệm bồi thường của chủ xe cơ giới, mà trách nhiệm này phat sinh khi có đủ bốn điều kiện sau: a) Có thiệt hại xảy ra Đây là yếu tố quan trọng nhất dé xác định nghĩa vụ bồi thường có xảy ra hay không.
Vì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp dụng nhằm khôi phục tình trạng tài sản cho người bị thiệt hại, nên thiệt hại là yếu tố không thể thiếu. Do đó, muốn áp dụng trách nhiệm này, đầu tiên phải xác định có thiệt hại xảy ra không và thiệt hại là bao nhiêu. Thiệt hai là những tốn thất xảy ra về tài sản và con người,bao gồm những mat mát, hư hỏng, hủy hoại về tài sản, nguồn thu nhập bị mat, chi phí nhằm ngăn chặn, khắc phục những hậu quả xấu về tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh du, uy tín, nhân phẩm, tinh than.