Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VÀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG Để có cơ sở hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề XĐPL về hợp đồng, Chƣơng này sẽ trình bày những vấn đề có tính lý luận liên quan đến XĐPL, phƣơng pháp giải quyết XĐPL, khái niệm về hợp đồng và hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài và giải quyết XĐPL về hợp đồng. Khái quát về xung đột pháp luật 1. Quy phạm và hệ thống quy phạm pháp luật xung đột Khái niệm “xung đột pháp luật” Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đặc biệt kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thƣơng mại Quốc tế (WTO) vào năm 2007 thì các mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, sự gia tăng lƣu thông hàng hóa khiến các quan hệ mua bán hàng hóa ngày càng phát triển. Việc hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến các quan hệ pháp luật ngày càng phát triển và không còn bị giới hạn trong phạm vi Việt Nam mà còn liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau và các quan hệ pháp luật phát sinh không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam mà còn chịu sự điều chỉnh của hai hay nhiều quốc gia khác nhau.
Do đó, dẫn đến hiện tƣợng XĐPL giữa các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng. Trƣớc hết, chúng ta cần làm rõ thuật ngữ “xung đột pháp luật” đƣợc hiểu nhƣ thế nào? Thuật ngữ “xung đột pháp luật” đƣợc hiểu theo nghĩa thông thƣờng là các quy định mâu thuẫn, không thống nhất giữa các văn bản pháp luật khác nhau trong việc giải quyết một vấn đề nào đấy. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, khái nhiệm “xung đột pháp luật” (conflict of laws) trong tƣ pháp quốc tế lại đƣợc hiểu theo ý nghĩa hoàn toàn khác. Thuật ngữ này thuộc chuyên ngành tƣ pháp quốc tế đƣợc sử dụng ở một quốc gia với mục đích dùng để giải quyết các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nƣớc ngoài.
Ví dụ nhƣ việc ký kết hợp đồng giữa một công ty X của Việt Nam và công ty Y của Hoa Kỳ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng có phát sinh tranh chấp thì câu hỏi đặt ra là hệ thống pháp luật nƣớc nào sẽ đƣợc áp dụng để giải quyết tranh chấp. Một ví dụ khác là việc đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam và công dân Hàn Quốc thì pháp luật quốc gia nào sẽ đƣợc áp dụng để việc đăng ký kết hôn phù hợp với quy định pháp luật của Việt Nam và Hàn Quốc. Theo định nghĩa trong Giáo trình Tƣ pháp Quốc tế của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội do PGS.
Nguyễn Bá Diến định nghĩa thì “Xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh một quan hệ Tư pháp Quốc tế cụ thể và giữa các hệ thống pháp luật này có sự khác biệt về các quy định khi giải quyết vấn đề” [19, trg. Theo định nghĩa của Giáo trình Tƣ pháp quốc tế trƣờng Đại học Luật Hà Nội thì “Xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật này hay quan hệ pháp luật khác” [56, tr. Theo định nghĩa của Giáo trình Luật Tƣ pháp quốc tế của Bùi Thị Thu “Xung đột pháp luật là một tình huống pháp lý hoặc một quan hệ pháp lý khi phát sinh có thể chịu sự điều chỉnh của hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau” [55, tr. Tóm lại, từ các định nghĩa trên ta có thể nhận thấy XĐPL xảy ra khi có từ hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh một quan hệ pháp luật và quan hệ pháp luật này là quan hệ có yếu tố nƣớc ngoài.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật Để giải quyết XĐPL ngƣời ta thƣờng sử dụng hai phƣơng pháp: Phƣơng pháp xung đột và phƣơng pháp thực chất. Phương pháp xung đột Phƣơng pháp xung đột là phƣơng pháp mà cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy phạm xung đột để xác định hệ thống pháp luật cụ thể nào để giải quyết XĐPL nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng của tƣ pháp quốc tế. Phƣơng pháp xung đột đƣợc áp dụng một cách chủ yếu và khá phổ biến trong cả hệ thống dân luật (civil law) mà tiêu biểu là một số quốc gia Châu Âu lục địa nhƣ Pháp, Đức và hệ thống thông luật (common law) nhƣ Anh, Mỹ, Australia.
Phƣơng pháp xung đột đƣợc xây dựng trên cơ sở hệ thống quy phạm pháp luật xung đột của quốc gia, điều này có nghĩa là cơ quan có thẩm quyền phải lựa chọn pháp luật của quốc gia này hay quốc gia kia có liên quan đến các quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên dựa trên những quy định pháp luật xung đột của quốc gia đó. Ví dụ, để xem xét việc giải quyết tranh chấp hợp đồng giữa một công ty Hàn Quốc và một công ty Việt Nam thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trƣớc hết cần xác định hệ thống pháp luật nào sẽ đƣợc áp dụng nhằm giải quyết tranh chấp hợp đồng giữa các bên. Việc lựa chọn này nhằm xác định luật thực chất của quốc gia nào sẽ đƣợc áp dụng và các nguyên tắc về quy phạm thực chất nào sẽ đƣợc áp dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp. Việc lựa chọn này thƣờng do tòa án có thẩm quyền xem xét.
Đây là điều trái ngƣợc hoàn toàn với việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Vì việc lựa chọn trọng tài là cơ quan để giải quyết tranh chấp thì các bên có ý muốn tránh khỏi việc bắt buộc sử dụng phƣơng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp xung đột của một quốc gia để lựa chọn luật giải quyết vụ tranh chấp. Hội đồng trọng tài thƣờng áp dụng luật do các bên lựa chọn. Trên thực tế, có rất nhiều trƣờng hợp cơ quan có thẩm quyền không chọn đƣợc luật thực chất để áp dụng bởi chƣa có quy phạm xung đột trong lĩnh vực đó.
Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần phải xem xét lại hệ thống pháp luật của quốc gia của mình để tìm ra các quy định phù hợp nhất để giải quyết vụ việc. Việc áp dụng phƣơng pháp xung đột tại quốc gia theo hệ thống thông luật (common law) còn phức tạp hơn nhiều vì tòa án có thẩm quyền rộng trong việc giải thích pháp luật và sáng tạo pháp luật (tuy nhiên vẫn phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản nhƣ tính công bằng, tôn trọng sự thỏa thuận của các bên và nằm trong khuôn khổ pháp luật) và việc giải quyết vụ việc lại dựa trên các án lệ; vì vậy rất dễ dẫn đến trƣờng hợp có nhiều trƣờng hợp phát sinh trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng mà các bên liên quan không thể tiên liệu đƣợc tất cả tình huống phát sinh trên thực tế [56, tr. Từ những phân tích nêu trên, ta nhận thấy phƣơng pháp xung đột có một số mặt hạn chế sau: Thứ nhất, khó có khả năng tòa án đƣa ra một phán quyết có tính thống nhất chung cho vụ tranh chấp bởi vì tòa án của các nƣớc khác nhau sẽ có quan điểm, cách nhìn nhận và áp dụng pháp luật khác nhau khi giải quyết vụ tranh chấp. Thứ hai, phƣơng pháp xung đột thƣờng không có tính ổn định và lâu dài vì các quy phạm xung đột luôn đƣợc hoàn thiện cùng với việc hệ thống hóa và pháp điển hóa tƣơng ứng với các điều ƣớc quốc tế mà quốc gia đó gia nhập hoặc văn bản quy phạm pháp luật của quốc gia đƣợc ban hành trong từng thời kỳ khác nhau [55, tr.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phương pháp thực chất Phƣơng pháp thực chất là phƣơng pháp xây dựng trên cơ sở các quy phạm thực chất, các quy phạm thực chất này quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài. Chính nhờ phƣơng pháp thực chất này mà cơ quan có thẩm quyền cũng nhƣ các bên khi tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài này chỉ cần căn cứ vào nội dung của những quy phạm thực chất này để giải quyết mà không cần phải sử dụng đến phƣơng pháp xung đột. Quy phạm thực chất gồm hai loại: quy phạm thực chất thống nhất trong điều ƣớc quốc tế và quy phạm thực chất trong pháp luật của quốc gia. Quy phạm thực chất thống nhất trong các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế: Xu hƣớng của các quốc gia hiện nay là càng ngày càng gắn bó với nhau về mặt kinh tế nên các quốc gia ngày càng có xu hƣớng sử dụng các quy phạm thực chất bằng cách ký kết các điều ƣớc quốc tế để điều chỉnh các quan hệ sản xuất, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, hàng hải, hàng không, đầu tƣ, thƣơng mại mua bán hàng hóa.
Việc ký kết các điều ƣớc quốc tế và đƣợc nội luật hóa trong pháp luật quốc gia có tác dụng đơn giản hóa và giải quyết một cách có hiệu quả trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài. Các cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét các quy phạm thực chất trong điều ƣớc quốc tế để giải quyết các quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài. Điều này dẫn đến việc không cần phải xem xét việc chọn luật và áp dụng luật nƣớc ngoài mà áp dụng ngay các quy phạm thực chất trong các điều ƣớc quốc tế mà quốc gia đó gia nhập, ký kết [56, tr. Các quốc gia trên thế giới đã ký kết nhiều điều ƣớc quốc tế đa phƣơng nhƣ: Công ƣớc Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Công ƣớc Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Công ƣớc Bec-nơ 1886 về bảo hộ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền tác giả, Công ƣớc 1980 của Liên hợp quốc về vận tải hàng hóa đa phƣơng thức quốc tế, … Bên cạnh đó, quy phạm thực chất thống nhất còn đƣợc ghi nhận trong các tập quán quốc tế (nhất là trong lĩnh vực thƣơng mại và hàng hải quốc tế nhƣ Tập quán thƣơng mại quốc tế (Incorterm), Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits – UCP), .