Luận văn thạc sĩ giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn - Hà Duy Thái

Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn đến năm 2025.

Trường đại học

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Hà Duy Thái

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Chợ Đồn

Nhu cầu giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn mang tính cấp thiết chiến lược. Thanh niên là lực lượng lao động nòng cốt tại địa bàn miền núi này. Nền kinh tế địa phương phụ thuộc phần lớn vào nông nghiệp và lâm nghiệp truyền thống. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Năng suất lao động chưa cao. Nhiều thanh niên sau khi tốt nghiệp phổ thông thiếu định hướng nghề nghiệp cụ thể. Họ gặp khó khăn khi tìm kiếm công việc có thu nhập ổn định tại quê hương. Áp lực di cư lao động tự do về các khu công nghiệp ngoại tỉnh ngày càng gia tăng. Thực trạng này làm hao hụt nguồn nhân lực trẻ phục vụ phát triển kinh tế huyện nhà. Do đó, việc nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn để kiến tạo việc làm bền vững là yêu cầu sống còn. Chính quyền huyện Chợ Đồn cần kết hợp đồng bộ giữa phát triển hạ tầng và định hướng lao động. Tạo sinh kế mới giúp thanh niên yên tâm lập thân, lập nghiệp tại địa phương. Đây là tiền đề thúc đẩy công cuộc xóa đói giảm nghèo vùng cao.

1.1. Khái niệm việc làm của thanh niên nông thôn

Việc làm của thanh niên nông thôn là mọi hoạt động lao động hợp pháp nhằm tạo ra thu nhập và giá trị xã hội. Lực lượng này nằm trong độ tuổi thanh niên theo luật định, cư trú tại vùng nông thôn. Hoạt động việc làm bao gồm sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ địa phương. Việc làm có thể là lao động tự do, làm thuê hoặc tự làm chủ. Thanh niên nông thôn là nguồn lao động giàu tiềm năng và nhiệt huyết. Họ có sức khỏe tốt nhưng thường thiếu tích lũy kinh nghiệm và vốn sản xuất. Việc làm ổn định giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp và hạn chế tệ nạn xã hội. Đây là yếu tố cốt lõi bảo đảm an sinh xã hội bền vững trên địa bàn huyện.

1.2. Vai trò kinh tế xã hội của lao động trẻ

Lực lượng lao động trẻ giữ vị trí trung tâm trong chiến lược chuyển đổi kinh tế huyện Chợ Đồn. Nguồn nhân lực này thúc đẩy tiếp thu kỹ thuật mới và khoa học sản xuất tiên tiến. Thanh niên nông thôn là lực lượng tiên phong trong phong trào đổi mới phương thức canh tác. Nhờ sức trẻ và sự nhạy bén, họ dễ dàng ứng dụng công nghệ số vào quảng bá nông sản. Tạo việc làm cho đối tượng này giúp phát triển kinh tế hộ gia đình. Thu nhập tăng thêm góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng sâu và trung tâm huyện. Ngoài ra, việc duy trì lao động trẻ tại địa phương giúp bảo tồn văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Nguồn lực thanh niên giữ vững trật tự an ninh cơ sở vững mạnh.

II. Thực trạng việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Chợ Đồn

Thực trạng việc làm của thanh niên nông thôn huyện Chợ Đồn phản ánh nhiều bất cập nội tại. Nền kinh tế huyện chuyển dịch chậm chạp. Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm hơn 45% tổng giá trị sản xuất. Công nghiệp và xây dựng chỉ tăng trưởng bình quân khoảng 1,09% mỗi năm. Ngành dịch vụ tăng trưởng không đáng kể. Tình trạng này khiến số lượng việc làm phi nông nghiệp mới tạo ra rất hạn chế. Phần lớn thanh niên địa phương chỉ làm các công việc thời vụ, thiếu tính ổn định lâu dài. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật còn ở mức thấp. Đa số thanh niên nông thôn thiếu kỹ năng nghề thực tiễn và tác phong công nghiệp. Do thiếu việc làm tại chỗ, nhiều lao động trẻ buộc phải rời bỏ quê hương. Họ tìm việc tại các khu công nghiệp Bắc Ninh, Thái Nguyên hoặc Hải Phòng. Xu hướng ly hương này dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân lực sản xuất nông nghiệp chất lượng cao tại chỗ. Cơ hội để kinh tế huyện bứt phá vì thế gặp nhiều trở ngại lớn.

2.1. Hạn chế về cơ cấu kinh tế và thị trường

Cơ cấu kinh tế huyện Chợ Đồn chuyển dịch rất chậm chạp. Nông lâm nghiệp truyền thống vẫn giữ vai trò chi phối và có giá trị gia tăng thấp. Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn chủ yếu có quy mô nhỏ hoặc siêu nhỏ. Năng lực tạo việc làm mới của khu vực tư nhân còn yếu. Các ngành chế biến nông sản và du lịch sinh thái chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Thị trường lao động thiếu sự liên kết chặt chẽ với nhu cầu thực tế. Các sàn giao dịch việc làm hoạt động định kỳ nhưng hiệu quả kết nối chưa cao. Thông tin tuyển dụng từ các doanh nghiệp ngoài tỉnh chưa đến được các thôn bản vùng sâu. Điều này thu hẹp cơ hội tiếp cận công việc tốt của thanh niên.

2.2. Trở ngại từ chất lượng nhân lực và vốn vay

Trình độ chuyên môn của thanh niên nông thôn huyện Chợ Đồn còn nhiều khoảng trống. Tỷ lệ lao động trẻ được cấp chứng chỉ nghề nghiệp chính quy rất thấp. Nhiều thanh niên thiếu kỹ năng mềm, kỷ luật lao động và trình độ ngoại ngữ. Khả năng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để khởi nghiệp còn gặp trở ngại về thủ tục. Ngân hàng Chính sách Xã hội có triển khai các gói vay nhưng hạn mức hỗ trợ còn thấp. Điều kiện tài sản bảo đảm gây khó khăn cho các hộ thanh niên nghèo. Tinh thần dám nghĩ dám làm và ý tưởng kinh doanh đổi mới sáng tạo chưa phổ biến. Họ chủ yếu áp dụng các mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ truyền thống. Những yếu tố này làm giảm năng lực cạnh tranh tìm kiếm việc làm.

III. Giải pháp tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Chợ Đồn

Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Chợ Đồn đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Địa phương cần đổi mới công tác đào tạo nghề gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường. Các khóa đào tạo ngắn hạn cần tập trung vào kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao, cơ khí và chế biến lâm sản. Chính quyền huyện cần chủ động thu hút đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất tại địa phương. Việc hỗ trợ vốn vay ưu đãi qua Ngân hàng Chính sách Xã hội cần được đẩy mạnh và đơn giản hóa thủ tục. Các chương trình thanh niên khởi nghiệp, lập thân lập nghiệp cần được tiếp sức kịp thời. Địa phương cần hỗ trợ xây dựng các hợp tác xã do thanh niên làm chủ nhiệm. Ngoài ra, việc tổ chức định hướng xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài là một giải pháp hữu hiệu. Thanh niên đi xuất khẩu lao động cần được trang bị ngoại ngữ, tay nghề và ý thức kỷ luật lao động tốt. Đây là hướng đi giúp nâng cao thu nhập nhanh chóng cho các hộ gia đình nghèo.

3.1. Đổi mới đào tạo nghề và tư vấn việc làm

Công tác đào tạo nghề cần chuyển từ cung ứng sẵn có sang đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Trung tâm giáo dục nghề nghiệp huyện cần liên kết chặt chẽ với các khu công nghiệp lân cận. Các lớp dạy nghề lưu động cần được mở tại các xã vùng sâu để tạo thuận lợi cho học viên. Nội dung đào tạo tập trung vào tay nghề thực hành, an toàn lao động và kỹ năng số. Hoạt động tư vấn hướng nghiệp cần thực hiện ngay từ bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông. Đoàn thanh niên đóng vai trò cầu nối tổ chức các ngày hội việc làm định kỳ. Thanh niên cần được cung cấp thông tin thị trường lao động minh bạch, chính xác để đưa ra quyết định phù hợp.

3.2. Hỗ trợ thanh niên vay vốn và khởi nghiệp

Địa phương cần mở rộng các gói tín dụng ưu đãi từ Quỹ Quốc gia về việc làm cho thanh niên. Quy trình giải ngân cần được cải cách để thanh niên dễ dàng tiếp cận nguồn vốn sản xuất. Chính quyền huyện cần khuyến khích thành lập các mô hình kinh tế trang trại và hợp tác xã thanh niên. Các mô hình trồng cây dược liệu, trồng rừng gỗ lớn và chăn nuôi đại gia súc cần được ưu tiên vốn. Huyện nên tổ chức các cuộc thi ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo để tìm kiếm và hỗ trợ dự án khả thi. Hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật và xây dựng thương hiệu OCOP cho sản phẩm thanh niên cần được quan tâm. Đây là bệ phóng quan trọng giúp lao động trẻ làm giàu ngay trên quê hương mình.

IV. Định hướng việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Chợ Đồn

Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Chợ Đồn là nhiệm vụ mang tầm chiến lược lâu dài. Sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể là chìa khóa then chốt. Huyện cần định hình lộ trình chuyển dịch việc làm thích ứng với xu thế phát triển xanh và kinh tế tuần hoàn. Việc khai thác tiềm năng thế mạnh về tài nguyên rừng và du lịch sinh thái sẽ mở ra nhiều không gian việc làm mới. Đẩy mạnh liên kết vùng với các trung tâm công nghiệp lớn tạo đầu ra ổn định cho nguồn lao động địa phương. Từng thanh niên nông thôn cũng cần chủ động nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề và khả năng thích ứng công nghệ. Phát triển kinh tế tập thể gắn với chương trình mỗi xã một sản phẩm tạo động lực giữ chân người trẻ. Những giải pháp này trực tiếp góp phần hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới của huyện Chợ Đồn. Nguồn lực thanh niên vững vàng sẽ là trụ cột thúc đẩy kinh tế huyện phát triển thịnh vượng và bền vững.

4.1. Ứng dụng mô hình kinh tế nông lâm kết hợp

Mô hình kinh tế nông lâm kết hợp là giải pháp thực tiễn phù hợp địa hình huyện Chợ Đồn. Việc trồng rừng sản xuất kết hợp chăn nuôi đại gia súc dưới tán rừng mang lại hiệu quả cao. Thanh niên có thể tận dụng diện tích đồi rừng sẵn có để phát triển mô hình trồng hồi, quế hoặc cây dược liệu bản địa. Mô hình này đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu vừa phải và tận dụng tối đa lao động gia đình. Khi sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng, giá trị kinh tế tăng vọt. Địa phương cần hỗ trợ thanh niên kỹ thuật thâm canh và quy trình chế biến sau thu hoạch. Đây là hướng phát triển kinh tế bền vững, giúp giữ đất, giữ rừng và tạo việc làm dài hạn.

4.2. Tác động lan tỏa đến phát triển bền vững

Giải quyết việc làm hiệu quả cho thanh niên tạo bước đột phá trong diện mạo kinh tế địa phương. Tỷ lệ lao động có việc làm ổn định tăng giúp giảm nghèo nhanh và bền vững. Nguồn thu nhập ổn định tạo điều kiện cho các gia đình tái đầu tư vào giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Thanh niên có việc làm sẽ giảm thiểu các nguy cơ mắc tệ nạn xã hội tại địa bàn nông thôn. Đội ngũ trí thức trẻ và công nhân kỹ thuật trở thành hạt nhân xây dựng cộng đồng văn minh. Hơn nữa, việc giữ chân lao động trẻ góp phần củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc vùng cao. Đây là nền tảng vững chắc để huyện Chợ Đồn hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới nâng cao.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

11/10/2026
Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn huyện chợ đồn tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn 1. Khái niệm và vai trò việc làm 1. Khái niệm Đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm về việc làm theo các khía cạnh khác nhau.

Về mặt bản chất, việc làm là quan hệ tích cực, sáng tạo của chủ thể việc làm với hoạt động sống của mình, với ý nghĩa, nội dung và mục đích đặt ra. Tuỳ thuộc vào từng thời điểm, không gian và từng chủ thể có cách tiếp cận vấn đề, đưa ra các khái niệm khác nhau về việc làm. Các nhà kinh tế học Anh cho rằng: “Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách kiếm sống của một con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế” (Phạm Đức Chính, 2005, tr. Theo quan điểm này thì tất cả những việc làm tạo ra thu nhập mà không cần phân biệt có được pháp luật thừa nhận hay ngăn cấm đều được gọi là việc làm.

Các nhà kinh tế Sônhin và Grincốp của Liên xô lại cho rằng: “Việc làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong khu vực xã hội hoá của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh tế phụ của các nông trang viên” (Phạm Đức Chính, 2005, tr. Theo khái niệm này thì những người đang đi học, đang tham gia hoạt động trong các lực lượng vũ trang, những người nội trợ đều coi là người có việc làm. Ngày nay, khái niệm này được quy định rõ trong Bộ Luật Việc làm của Liên bang Nga như sau: “Việc làm là hoạt động của công dân nhằm thoả mãn những nhu cầu xã hội và của cá nhân, đem đến cho họ thu nhập và không bị pháp luật Liên bang ngăn cấm” (Phạm Đức Chính, 2005, tr. 7 Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động.

Khi đó, việc làm được phân thành hai loại: Có trả công (những người làm thuê, học việc.) và không được trả công nhưng vẫn có thu nhập (những người làm kinh tế gia đình. Vì vậy, “Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” (Phạm Đức Chính, 2005, tr. Theo khái niệm này, người có việc làm là người làm việc gì đó để được trả công, lợi nhuận được thanh toán bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình (không được nhận tiền công hay hiện vật). Tuy nhiên, quan niệm này mang nghĩa rất rộng, bao trùm mọi hoạt động lao động của con người.

Trong thời đại ngày nay, với quan niệm trên, có rất nhiều người sẽ thuộc diện có việc làm, bao gồm: những hoạt động mang tính hợp pháp và những hoạt động mang tính phi pháp hay là những hoạt động lao động của con người vi phạm pháp luật, hoặc bị cho là vi phạm đạo đức xã hội và bị ngăn cấm ở một số nước. Ví dụ, việc buôn bán heroin, mại dâm,. ở các nước như Hà Lan, Colômbia thì không cấm, nhưng những hoạt động này lại bị cấm ở các nước khác, đặc biệt là các nước Châu Á như: Việt Nam, Trung Quốc. Do vậy, khái niệm trên chỉ mang tính khái quát, là cơ sở nghiên cứu vấn đề chung cho các nước trên thế giới.

Theo Khoản 1, Điều 9 của Bộ luật Lao động nước Cộng hòa XHCN việt Nam: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm. Theo quan niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh vào việc tạo ra thu nhập của việc làm. 8 Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm.

Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm, quan niệm này đã rõ ràng hơn so với quan niệm của tổ chức ILO. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Người lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên kết kinh doanh, tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà nước. Điều này khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của người lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phi chính thức.

Hai điều kiện đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập, nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma tuý, mại dâm. thì không được thừa nhận là việc làm. Mặt khác một hoạt động là hợp pháp và có ích, nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm.

Trong luận văn này, tác giả đồng tình với khái niệm “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ.) để sử dụng sức lao động đó. Trên cơ sở này sẽ hình thành các dạng việc làm cũng như phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hỗ trợ giải quyết việc làm. Đặc trưng Về mặt pháp lý: việc làm phải hợp pháp, phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật về độ tuổi, về những ngành nghề được làm và không được làm. Về mặt kinh tế: nó phải đáp ứng lợi ích kinh tế của người lao động như thu nhập, bình đẳng, tăng trưởng và phát triển quốc tế.

Về chính trị: việc làm thể hiện rõ những quan điểm, đường lối lãnh đạo của giai cấp cầm quyền. 9 Về mặt xã hội: việc làm phải phù hợp với truyền thống văn hoá, đạo đức, phong tục tập quán, công bằng xã hội. Về mặt cá thể: việc làm thể hiện những tri thức, năng lực, phẩm chất của người lao động khi tham gia việc làm ở những ngành nghề cụ thể. Như vậy, việc làm là một phạm trù kinh tế - xã hội, việc làm chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ.

Quan niệm đúng về việc làm là cơ sở khoa học cho giải quyết việc làm. Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn 1. Giải quyết việc làm “Giải quyết việc làm là phải tạo ra việc làm đầy đủ cho người lao động và phải cao hơn, đó là tạo ra tự do trong lựa chọn việc làm để triệt để giải phóng sức lao động và các nguồn lực của xã hội” Quan niệm khác lại cho rằng: giải quyết việc làm là trách nhiệm của toàn xã hội và người lao động nhằm cân bằng thị trường lao động, giúp người lao động có việc làm, có thu nhập ổn định đáp ứng nhu cầu sinh tồn và phát triển của người lao động, gia đình và xã hội. Quan niệm này cũng có sự đồng nhất giữa những quan điểm trên về vai trò, mục tiêu giải quyết việc làm, nhưng nó chỉ ra rõ hơn chủ thể giải quyết việc làm và mục tiêu cụ thể của giải quyết việc làm không chỉ là lợi ích của người lao động mà là cả lợi ích xã hội.

Như vậy, giải quyết việc làm thực chất là một quá trình tác động có chủ đích của chủ thể xã hội và người lao động nhằm giúp người lao động có việc làm, việc làm đầy đủ có thu nhập và phải hướng tới không ngừng nâng cao chất lượng việc làm, thu nhập cao, ổn định để người lao động có cuộc sống vật chất và tinh thần ngày càng cao. Giải quyết việc làm không chỉ là vấn đề kinh tế mà là vấn đề xã hội vì có liên quan đến công bằng xã hội và tiến bộ xã hội; nó không chỉ là sự quan tâm của người lao động, gia đình, mỗi quốc gia mà là vấn đề có tính chất toàn cầu. 10 Giải quyết việc làm là một trong những mục tiêu và thước đo quan trọng nhất để đánh giá tính ưu việt của một chế độ xã hội, trình độ văn minh của nhân loại. * Vai trò của giải quyết việc làm Việc làm liên quan đến nhu cầu sống của con người, nó là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo sự phát triển con người, vậy việc làm thuộc phạm trù xã hội, và do đó giải quyết việc làm nhằm giải quyết một vấn đề xã hội vừa cơ bản, lâu dài, vừa cấp bách.

Giải quyết việc làm liên quan đến thỏa mãn nhu cầu con người và là nguồn gốc, nguyên căn của mọi vấn đề xã hội. Giải quyết việc làm có tính chất mục tiêu xã hội, góp phần giải quyết công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống, nhà nước tạo mọi điều kiện cho mọi người có cơ hội như nhau trong tìm kiếm và tự tạo việc làm. Giải quyết việc làm nhằm ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội. Giải quyết việc làm nhằm nâng cao thu nhập của người lao động, cải thiện mức sống của người dân.

Từ đó tạo sự tăng trưởng kinh tế, giải quyết được những vấn đề xã hội: như xóa đói giảm nghèo, hạn chế tệ nạn xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị, nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn, đẩy nhanh và chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế. Giải quyết việc làm có vai trò khác nhau trong trong từng cơ chế kinh tế. Trong cơ chế kinh tế tập trung, nhà nước bố trí việc làm cho mọi người từ A đến Z nhưng trong cơ chế thị trường nhà nước tự tạo cho mọi người các cơ hội tự tìm kiếm việc làm, mở rộng cơ hội tuyển chọn lao động của người sử dụng lao động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Hà Duy Thái (2022), Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Hà, D. T. (2022). Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/giai-quyet-viec-lam-cho-thanh-nien-nong-thon-huyen-cho-don-tinh-bac-kan/9646544757
IEEE
D. T. Hà, "Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2022. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/giai-quyet-viec-lam-cho-thanh-nien-nong-thon-huyen-cho-don-tinh-bac-kan/9646544757

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác