phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung và kết quả nghiên cứu của đề tài được chia thành 04 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động nữ Chƣơng 2. Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng giải quyết việc làm lao động nữ nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Chƣơng 4.
Một số giải pháp giải quyết việc làm lao động nữ nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ 1. Những vấn đề chung về lao động 1. Khái niệm về lao động Theo giáo trình Kinh tế lao động, lao động được định nghĩa là hoạt động có mục đích, ý thức của con người, trong quá trình lao động, con người vận dụng sức lực của bản thân, sử dụng công cụ lao động để tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi chúng và làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống con người. Chính vì vậy Ph.Ăngghen đã viết: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”.
Như vậy, lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, là quá trìnhngười lao động sử dụng sức lao động của mình vào sản xuất để tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc. Quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau giữa các quốc gia, thậm chí khác nhau qua các thời kỳ của cùng một quốc gia, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế. Ở nước ta, theo quy định độ tuổi lao động là từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ.
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019 thì từ năm 2021 trở đi, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường là đủ 60 tuổi 3 tháng đối với nam, 55 tuổi 4 tháng đối với nữ, sau đó cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với Nam, 4 tháng đối với nữ cho đến khi đạt độ tuổi 62 đối với nam vào năm 2028 và 60 tuổi đối với nữ vào năm 2035. Trường hợp người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm. Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt là số lượng và chất lượng. Xét về mặt số lượng, nguồn lao động gồm: 5 - Bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm.
- Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đi học, làm việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định). Chất lượng của nguồn lao động về cơ bản được đánh giá thông qua trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động. Lực lượng lao động (LLLĐ) hay dân số hoạt động kinh tế theo quan niệm của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là một bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm trong các lĩnh vực đời sống KTXH, ngoài ra còn cả bộ phận dân số không trực tiếp tạo ra thu nhập nhưng lại trực tiếp giúp cho người thân, gia đình tạo thu nhập và những người đang trong độ tuổi lao động không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc làm và luôn sẵn sàng làm việc. Trên thực tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, vẫn có một số lao động không nằm trong độ tuổi lao động nhưng vẫn tham gia lao động như thiếu niên từ 13 đến 15 tuổi hay nữ trên 60 tuổi và nam trên 62 tuổi.
Trong nghiên cứu này, thống kê LLLĐ hay dân số hoạt động kinh tế gồm những người thoả mãn các điều kiện đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc (có việc làm) hoặc thất nghiệp trong tuần nghiên cứu, với thời kỳ nghiên cứu là một tuần (7 ngày). Dân số không hoạt động kinh tế theo ILO bao gồm toàn bộ số người từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc bộ phận có việc làm và thất nghiệp. Những người này không hoạt động kinh tế vì các lí do: đang đi học, hiện đang làm công việc nội trợ cho bản thân gia đình, tàn tật không có khả năng lao động, các lý do sức khỏe hoặc ở vào tình trạng khác. Đặc điểm của lao động nữ Lao động nữ là một bộ phận quan trọng của lực lượng lao động quốc gia, bao gồm một bộ phận dân cư là nữ trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc, đang có việc làm hoặc không có việc làm, mong muốn có việc làm.
Bộ Luật Lao động Việt Nam quy định: lao động nữ là những phụ nữ từ 15 - 60 tuổi có khả năng lao động, hiện đang có việc làm hoặc bị thất nghiệp. Do đó có thể thấy: lực lượng lao động nữ 6 bao gồm những phụ nữ trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những phụ nữ thất nghiệp nhưng đang có nhu cầu và mong muốn tìm kiếm việc làm. Phụ nữ là một lực lượng lao động quan trọng trong lực lượng lao động xã hội có tính đặc thù về giới và giới tính thể hiện trong sức khỏe và tâm sinh lí. Cùng với nam giới, phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Xuất phát từ đó lao động nữ có các đặc điểm sau: Trước hết, về đặc điểm thiên chức làm mẹ. Do bẩm sinh, phụ nữ có thiên chức mang thai và sinh con, nuôi con bằng dòng sữa của mình. Thoáng nghĩ tưởng chừng đơn giản, vì từ xưa tới nay phụ nữ nào mà chẳng mang thai và sinh con, nuôi con, song trên thực tế lại nẩy sinh một loạt vấn đề phức tạp làm cho các chủ sử dụng lao động phải cân nhắc, lựa chọn và nếu không quán triệt quan điểm bình đẳng giới thì hầu hết các chủ sử dụng lao động chỉ muốn tuyển chọn lao động nam. Bởi lẽ, trong suốt thời kỳ mang thai và nuôi con nhỏ lao động nữ được phép nghỉ để đi khám thai và nghỉ sinh con từ 6 tháng tuỳ theo điều kiện lao động, tính chất công việc nặng nhọc, độc hại và nơi xa xôi hẻo lánh, ngoài ra trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ sớm mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc mà vẫn hưởng đủ lương, nhưng các chủ sử dụng lao động vẫn phải trả bảo hiểm xã hội đầy đủ cho lao động nữ khi họ không làm việc vì thai sản.
Do đó, xét về hiệu quả kinh tế trước mắt giữa chi phí bỏ ra với kết quả mang lại đã khiến cho các chủ đang tìm kiếm lao động, kể cả nữ chủ không thích thuê lao động nữ. Hai là, về đặc điểm sức khoẻ sinh lý, phụ nữ thường thấp bé, nhẹ cân, chân yếu, tay mềm lại phải đảm nhận thiên chức làm mẹ nên không thích hợp với công việc nặng nhọc, độc hại ảnh hưởng đến sức khoẻ như những công việc trên cao; những nghề làm việc dưới nước; những công việc tiếp xúc với hoá chất có ảnh hưởng đến sức khoẻ của người mẹ và của thai nhi. Bên cạnh đó phụ nữ thường dịu dàng, nhẹ nhàng, rất khéo tay, cần cù, chịu khó nên rất thích hợp với các nghề giáo dục, dịch vụ, phục vụ, thêu ren, thủ công truyền thống làm bằng tay. 7 Ba là, về những đặc điểm xã hội: So với nam giới, điều kiện sinh hoạt ăn, ở của lao động nữ thường phức tạp hơn trong khi có chỗ ở ổn định lại là một điều kiện để phụ nữ được tiếp nhận vào làm việc.
Cũng do những định kiến về giới còn tồn tại mà lao động nữ thường có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, lành nghề thấp hơn lao động nam, thêm vào đó là tính rụt rè, kém tự tin vào chính bản thân mình cũng là trở ngại khó tìm việc làm trên thị trường lao động trong quan hệ so sánh với nam giới. Nhận thức rõ các đặc điểm trên, một mặt chính sách của Đảng và Nhà nước phải tạo ra điều kiện khuyến khích người chủ sử dụng lao động nữ tạo cơ hội cho phụ nữ được tiếp cận với việc làm với đào tạo và phát triển, có các hình thức tổ chức lao động thích hợp để thu hút lao động nữ như làm việc không trọn ngày, thời gian biểu làm việc linh hoạt. Các nhà hoạch định chính sách phải có quan điểm rõ ràng, phải lồng ghép giới vào các vấn đề phát triển. Các chủ sử dụng lao động kể các cơ quan thuộc bộ máy công quyền của Nhà nước cần mạnh dạn tuyển chọn và sử dụng lao động nữ, tạo cơ hội cho lao động nữ vươn lên làm tốt chức năng xã hội và chức năng tái sinh sản, chăm sóc và nuôi dưỡng thế hệ tương lai.
Mặt khác, bản thân lao động nữ phải có sức vươn lên, học tập để nâng cao trình độ, có năng lực đảm nhận các công việc được giao, tổ chức khoa học công việc gia đình động viên người chồng và các thành viên nam giới trong gia đình cùng chia sẻ công việc nội trợ, nuôi dạy con ngoan để làm tốt thiên chức giới mà vẫn hoàn thành vai trò sản xuất của mình. Đặc điểm của lao động nữ nông thôn Thứ nhất, trình độ học vấn lao động nữ nông thôn thấp. Nữ giới trong độ tuổi lao động tại các vùng nôn thôn trình độ học vấn còn rất thấp, tỷ lệ người mù chữ còn cao. Tại các vùng nông thôn, cha mẹ chưa thực sự đầu tư vào vào trẻ em gái, sự bất bình đẳng về giới vào việc đầu tư cho tương lai của con cái.
Số lượng phụ nữ, trẻ em gái, người nghèo, người dân tộc, người du canh, du cư là những đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất trong việc xóa mù chữ. Tỷ lệ tái mù chữ hiện vẫn còn cao, nhất là ở các vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa do môi trường giao tiếp, môi trường sử dụng ngôn ngữ và sách báo nghèo nàn.