phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Khái niệm chung về hợp đồng vay tài sản và sơ lƣợc một số nét về Quận Hai Bà Trƣng – thành phố Hà Nội. Chƣơng 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản của TAND quận Hai Bà Trƣng Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật về hợp đồng vay tài sản 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN VÀ SƠ LƢỢC MỘT SỐ NÉT VỀ QUẬN HAI BÀ TRƢNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN 1. Khái niệm về hợp đồng vay tài sản.
Dƣới góc độ xã hội, theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, từ “vay” đƣợc hiểu là “ nhận tiền hay vật gì của ngƣời khác để chi dùng trƣớc với điều kiện sẽ trả tƣơng đƣơng hoặc có thêm phần lãi”[17]. Nhƣ vậy, dƣới góc độ là quan hệ xã hội, quan hệ vay tài sản phải có ít nhất hai chủ thể tham gia, đƣợc xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, đối tƣợng của quan hệ là tiền hoặc vật bất kỳ. Qua tiến trình phát triển của xã hội đã chứng minh sự vận động và phát triển của quan hệ vay tài sản luôn chịu sự tác động và chi phối bởi các hình thái kinh tế - xã hội. Ở hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ và hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, quan hệ vay tài sản tồn tại dƣới hình thức cho vay nặng lãi.
Đây là thời kỳ nền kinh tế kém phát triển, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên, tác động tới sự phân chia giai cấp. Các chủ thể tham gia quan hệ chủ yếu hai tầng lớp giai cấp thống trị - ngƣời cho vay và giai cấp bị trị - ngƣời vay. Dƣới thời này, quan hệ tài sản không còn đƣợc xác lập trên cơ sở sự thỏa thuận. Ngƣời vay bị phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí và các điều kiện của ngƣời cho vay.
Dƣới hình thái kinh tế xã hội tƣ bản chủ nghĩa, do sự phát triển của nền công nghiệp với nhu cầu số lƣợng vốn lớn nên quan hệ vay tài sản với mức lãi suất cao bị đẩy lùi và đƣợc thay thế bởi quan hệ vay tài sản với lãi suất thấp. Tuy nhiên, việc cho vay nặng lãi không bị thủ tiêu hoàn toàn, nó vẫn tồn tại bởi ngƣời đi vay không vì mục đích sản xuất, kinh doanh, mà nhằm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Nền kinh tế thị trƣờng, bị tác động bởi quy luật tiền tệ. Tình trạng thừa hoặc thiếu nguồn vốn vẫn tồn tại, vấn đề đặt ra lúc này là việc điều chỉnh nhu cầu giao lƣu vốn để bảo đảm cho sự phát triển kinh tế theo định hƣớng của Nhà nƣớc.
Từ khi xã hội phân chia giai cấp, Nhà nƣớc xuất hiện điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của giai cấp thống trị. Xuất phát từ tính chất phổ biến và phức tạp của quan hệ vay tài sản nên Nhà nƣớc đã tác động và điều chỉnh quan hệ này bằng các quy định pháp luật. Từ đó quan hệ vay tài sản không chỉ là quan hệ xã hội mà đƣợc nâng lên thành quan hệ pháp luật và chế định hợp đồng vay tài sản ra đời. Từ thời La Mã cổ đại, hợp đồng vay tài sản đã trở thành một trong những hợp đồng thông dụng nhất của pháp luật về hợp đồng.
Ở pháp luật các nƣớc trên thế giới cũng rất chú trọng tới việc điều chỉnh quan hệ pháp luật này. Bộ luật Dân sự Pháp, Bộ luật Dân sự và Thƣơng mại Thái Lan quy định hợp đồng vay tài sản trong một thiên – Thiên: Vay mƣợn. Dƣới góc độ pháp luật, khái niệm hợp đồng vay tài sản đƣợc nhìn ở nhiều phƣơng diện khác nhau. Về phƣơng diện khách quan, hợp đồng vay tài sản đƣợc hiểu là tập hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ vay tài sản phát sinh giữa các chủ thể với nhau trong giao dịch dân sự.
Về phƣơng diện chủ quan, hợp đồng vay tài sản là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định.Mác đã nói: “Tự nó, hàng hóa không thể đi đến thị trƣờng và trao đổi với nhau đƣợc. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau thì những ngƣời giữ chúng phải đối xử với nhau nhƣ những ngƣời mà ý chí nằm trong các vật đó” [1]. Chính vì quan hệ vay tài sản đƣợc hình thành từ những hành vi có ý 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chí của các chủ thể, cho nên yếu tố thỏa thuận thông qua việc bày tỏ và thống nhất ý chí giữa các bên là nền tảng đầu tiên hình thành nên một quan hệ hợp đồng dân sự. Vì vậy để hiểu đƣợc bản chất của hợp đồng vay tài sản cần nghiên cứu khái niệm hợp đồng vay tài sản ở phƣơng diện chủ quan.
Hợp đồng vay tài sản trƣớc hết là một giao dịch dân sự, vì vậy khi giao kết bất cứ một hợp đồng dân sự nào, các bên đều phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản của quan hệ dân sự, đó là nguyên tắc “tự nguyện cam kết, thỏa thuận" (Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2005) và tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự nói chung đƣợc quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005. Xuất phát từ nguyên tắc này mà khái niệm hợp đồng vay tài sản đƣợc hình thành trên cơ sở của “sự thỏa thuận”. Thỏa thuận ở đây là sự thỏa thuận giữa các chủ thể trong hợp đồng, đó là bên vay và bên cho vay. Hợp đồng có đƣợc xác lập hay không là do sự thỏa thuận giữa các bên, tức phải có sự thống nhất ý chí giữa các bên trong việc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ nhất định.
Bởi vì ý chí là khả năng tự xác định mục đích cho hành động và hƣớng hoạt động của mình tới việc đạt đƣợc mục đích đó. Tuy nhiên, sự thỏa thuận phải nằm trong hành lang quy định của pháp luật và chuẩn mực xã hội. Nội dung của sự thỏa thuận không đƣợc trái pháp luật và đạo đức xã hội. Ngoài ra, sự thỏa thuận còn phải đƣợc hình thành trên cơ sở của sự tự nguyện.
Nếu một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, ép buộc khi giao kết hợp đồng thì hợp đồng đó sẽ không đƣợc Nhà nƣớc công nhận và bảo hộ, giao dịch đó sẽ vô hiệu. Nhƣ vậy, hợp đồng vay tài sản trƣớc tiên phải sự thống nhất giữa ý chí và sự thể hiện ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, hợp đồng vay tài sản đƣợc quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lƣợng, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất lƣợng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”[5]. Vậy, có thể định nghĩa về hợp đồng vay tài sản nhƣ sau: Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay chuyển giao cho bên vay tài sản và quyền sở hữu đối với tài sản vay; khi đến hạn, bên vay có nghĩa vụ thanh toán cho bên cho vay khoản tiền hoặc vật cùng loại đã vay đúng số lượng, chất lượng và lãi suất tương ứng với thời hạn vay theo thoả thuận.
Đặc điểm của hợp đồng vay tài sản Hợp đồng vay tài sản là một dạng của hợp đồng dân sự, do vậy bên cạnh những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự thì hợp đồng vay tài sản cũng có những đặc điểm riêng của nó. Nghiên cứu đặc điểm riêng của hợp đồng vay tài sản giúp ta phân biệt hợp đồng vay tài sản với các loại hợp đồng dân sự khác. Thứ nhất, hợp đồng vay tài sản là một hợp đồng ƣng thuận. Dựa vào thời điểm phát sinh hiệu lực, thì hợp đồng dân sự đƣợc phân thành hai loại: hợp đồng ƣng thuận và hợp đồng thực tế.
Hợp đồng ƣng thuận là những hợp đồng mà theo quy định của pháp luật, quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi các bên đã thoả thuận xong nội dung cơ bản của hợp đồng; còn hợp đồng thực tế là những hợp đồng mà sau khi thoả thuận, hiệu lực của nó chỉ phát sinh tại thời điểm khi các bên đã chuyển giao cho nhau đối tƣợng của hợp đồng. Việc xác định quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau giữa các chủ thể trong hợp đồng vay tài sản phải đƣợc bắt đầu từ khi hợp đồng có hiệu lực. Theo Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Hợp đồng đƣợc giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trƣờng hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác" [5]. Nhƣ vậy từ thời điểm hợp đồng giao kết đã phát sinh hiệu lực của hợp đồng vay tài sản, và từ thời điểm này nếu 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bên cho vay không thực hiện nghĩa vụ giao tiền hoặc vật cùng loại thì bên vay có quyền kiện dƣới góc độ là vi phạm nghĩa vụ đƣợc cam kết trong hợp đồng vay tài sản.
Do vậy, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng ƣng thuận. Thứ hai, hợp đồng vay tài sản là một hợp đồng đơn vụ. Dựa vào mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng mà hợp đồng đƣợc chia thành hai loại là hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 406 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: "Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau"[5].
Nghĩa là trong quan hệ này mỗi bên đều có quyền và đồng thời có nghĩa vụ đối với bên còn lại. Còn theo quy định tại khoản 2 Điều 406 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: "Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ"[5]. Tức là trong quan hệ này một bên chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ và một bên có nghĩa vụ mà không có quyền.