Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG TÒA ÁN 1. KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Định nghĩa hợp đồng thƣơng mại quốc tế Hợp đồng thương mại quốc tế (hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài) ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế quốc tế. Bởi vì ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình từ sản xuất cho đến phân phối, chúng ta đều phải sử dụng hợp đồng để tiến hành các hoạt động kinh doanh thương mại.
Nói cách khác, các quan hệ thương mại quốc tế chủ yếu được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng. Trong thực tế có rất nhiều các quan niệm khác nhau về hợp đồng trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của quốc gia. Ở Việt Nam, trước đây đã sử dụng nhiều khái niệm pháp lý để chỉ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại như: Hợp đồng kinh doanh (Bản điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh kèm theo Nghị định số 735/TTg ngày 10/4/1957), Hợp đồng kinh tế (Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989), Hợp đồng thương mại… Tuy nhiên Luật Thương mại hiện hành không định nghĩa cụ thể về hợp đồng thương mại mà chỉ quy định chung như "hoạt động thương mại" (Điều 1), "mua bán hàng hóa" (Điều 3), "mua bán hàng hóa quốc tế" (Điều 27). Do đó, về hợp đồng thương mại, có thể căn cứ vào quy định về hợp đồng dân sự: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" (Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005).
Về mặt lý luận, hợp đồng trong thương mại là một loại hợp đồng dân sự, một loại hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng. Với ý nghĩa như vậy, các quy định về hợp đồng dân sự tại Bộ luật Dân sự được áp dụng cho các loại hợp đồng nói chung, trong đó có các hợp đồng về thương mại và hợp đồng thương mại quốc tế. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp 1804 giải thích hợp đồng là một sự nhất trí và theo đó, một người hoặc một số người giao cho một người hoặc một số người khác nghĩa vụ phải làm hoặc không phải làm một việc gì đó. Dù quan niệm như thế nào về hợp đồng thì, về bản chất, hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các bên chủ thể trong xã hội, thông qua đó xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.
Hợp đồng phải có các đặc điểm cơ bản sau: - Hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí của ít nhất là hai bên, ý chí phải tự nguyện và thống nhất. - Mục đích của hợp đồng nhằm đạt được kết quả pháp lý như đã định trước. - Sự thỏa thuận trong hợp đồng phải hợp pháp. - Phải có các nội dung chủ yếu của hợp đồng.
Hợp đồng thương mại quốc tế, trước hết, cũng mang những đặc điểm của hợp đồng dân sự nói chung, đó là: sự thỏa thuận ý chí của ít nhất là hai bên chủ thể nhằm đạt được mục đích đã đề ra, theo đó các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận. Sự thỏa thuận trong hợp đồng phải hợp pháp và thể hiện được nội dung chính của hợp đồng. Bên cạnh đó Hợp đồng thương mại quốc tế còn mang "tính chất thương mại" và có "tính chất quốc tế", hay còn gọi là "yếu tố nước ngoài". Khác với các giao dịch dân sự là phục vụ mục đích sinh hoạt, tiêu dùng, mục đích mà các bên tham gia quan hệ thương mại thường hướng tới là lợi nhuận hoặc phục vụ các chính sách kinh tế xã hội.
Chủ thể của hợp đồng thương mại quốc tế chủ yếu là các thương nhân. Theo quy định của Luật Thương mại 2005, thương nhân bao gồm các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động kinh doanh một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Khoản 1 Điều 6). Có những hợp đồng thương mại đòi hỏi các bên đều phải là thương nhân (hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại diện đại lý), có những hợp đồng chỉ cần ít nhất một bên là thương 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quan hệ thương mại ở đây cũng được hiểu theo nghĩa rộng, đó là "cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận phân phối sản phẩm; đại diện thương mại; ủy thác thu nợ; các dịch vụ cho thuê tài chính; xây dựng nhà máy; dịch vụ tư vấn; dịch vụ thiết kế; cho thuê bằng phát minh sáng chế; đầu tư; tài trợ; giao dịch ngân hàng; bảo hiểm; hợp đồng khai thác hoặc đấu thầu; liên doanh, liên kết và các hình thức hợp tác công nghiệp, thương mại khác; vận tải hàng hóa, hành khách bằng đường không, đường biển, đường sắt, hoặc đường bộ" (Điều 1 Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế - UNCITRAL).
Yếu tố "quốc tế" của hợp đồng thương mại theo quy định của tư pháp quốc tế thường được hiểu là một trong các bên có quốc tịch hoặc nơi cư trú ở nước ngoài (Công ước Viena 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế coi yếu tố "quốc tế" là "trụ sở thương mại ở các nước khác nhau"); sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi chấm dứt mối quan hệ hợp đồng xảy ra ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến hợp đồng ở nước ngoài (Công ước LaHay 1964 về mua bán quốc tế động sản hữu hình, yếu tố "quốc tế" được xác định: chủ thể có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và đối tượng là hàng hóa được chuyển qua biên giới hoặc việc trao đổi ý chí ký kết hợp đồng giữa các bên được lập ở những nước khác nhau). Yếu tố "quốc tế" theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm 1997, là căn cứ vào quốc tịch của các bên tham gia quan hệ hợp đồng (hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với thương nhân nước ngoài). Theo Luật Thương mại 2005: Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu. Việc mua bán hàng hóa quốc tế phải thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.
Tóm lại, hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ thương mại quốc tế. Hợp đồng thương mại quốc tế có rất nhiều loại, chẳng hạn hợp đồng mua 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyển giao công nghệ, hợp đồng vận tải quốc tế, hợp đồng hợp tác kinh doanh. Một số loại hợp đồng thƣơng mại quốc tế chủ yếu Căn cứ vào nội dung của mối quan hệ thương mại quốc tế, hợp đồng trong thương mại quốc tế được chia thành các loại chủ yếu: Hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng vận chuyển hàng hóa, hợp đồng xây dựng, hợp đồng trung gian thương mại (hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng môi giới thương mại, hợp đồng đại lý, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa), hợp đồng dịch vụ xúc tiến thương mại (hợp đồng dịch vụ quảng cáo, hợp đồng dịch vụ trưng bày giới thiệu sản phẩm hàng hóa), hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng trong lĩnh vực đầu tư (hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng liên doanh. Trong thực tiễn thương mại quốc tế có các loại hợp đồng chủ yếu sau: - Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.
Cơ sở pháp lý của việc mua bán hàng hóa là hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là dạng hợp đồng được các bên chủ thể của quan hệ thương mại quốc tế sử dụng phổ biến và thường xuyên nhất trong các hoạt động thương mại của mình. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của hợp đồng thương mại quốc tế (hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài). Ngoài những đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn có tính quốc tế (yếu tố nước ngoài).
Theo định nghĩa tại Công ước Lahay 1964 về mua bán quốc tế động sản hữu hình thì: "Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa trong đó các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, hàng hóa được chuyển từ nước này sang nước khác hoặc việc trao đổi ý chí ký kết hợp đồng giữa các bên ký kết được thiết lập ở các nước khác nhau" (Điều 1). Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Công ước Viena 1980, gián tiếp định nghĩa: "Công ước này áp dụng đối với những hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau" (Điều 1). Ở Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được biết đến với nhiều tên gọi như là: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (theo Công ước Viena 1980), hợp đồng xuất nhập khẩu, hợp đồng mua bán ngoại thương (theo Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thương nghiệp, nay là Bộ Công thương), hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài (Luật Thương mại 1997) và "Mua bán hàng hoá quốc từ được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu. Mua bán hàng hoá quốc từ phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương" (Điều 27 Luật Thương mại 2005).
Như vậy có thể hiểu, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thống nhất về ý chí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài mà thông qua đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau.