Chương 1 LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 1. Khái niệm và đặc điểm của tố cáo về đất đai 1. Khái niệm tố cáo trong lĩnh vực đất đai Tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, quyền cơ bản của con người được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận. Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt.
Việc nhận đơn thư tố cáo được Người đặt ngang tầm với nhiệm vụ đi giám sát công việc thực tế ở các cấp chính quyền của Ban Thanh tra đặc biệt. Từ Hiến pháp năm 1959 đến nay, quyền tố cáo được ghi nhận là một trong những quyền cơ bản của công dân, quyền cơ bản của con người. Sau khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành, ngày 27/11/1981, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh quy định việc xét, giải quyết tố cáo của công dân. Có thể nói, đây là văn bản pháp lý đầu tiên qui định một cách tập trung, đầy đủ và chi tiết về việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo của công dân.
Tháng 12 năm 1998, Quốc hội đã thông qua Luật Tố cáo thay thế cho Pháp lệnh Tố cáo năm 1991. Tại kỳ họp 2, Quốc hội khóa XIII, đã thông qua Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2012. Đây là bước phát triển mới trong việc đảm bảo quyền tố cáo của công dân, góp phần hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề này. Tố cáo là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội.
Theo cách hiểu đơn giản nhất, tố cáo là vạch rõ tội lỗi của kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận. Hiểu theo nghĩa khác, tố cáo là việc công dân báo với cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về bất kỳ hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà họ cho rằng hành vi ấy vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quy định của tổ chức, cộng đồng gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, tổ chức, cộng đồng hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Theo “Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng” của Nguyễn Duy Lâm, Nhà xuất bản Giáo dục, 2011, Tố cáo là “báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang hoặc cá nhân thuộc cơ quan, tổ chức đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tới lợi ích của Nhà 7 nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, của cơ quan, tổ chức”. Khoản 1, điều 2, Luật Tố cáo năm 2011 quy định “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”.
Tố cáo về đất đai là hoạt động tố cáo mà đối tượng của nó là các hành vi, quyết định hành chính trong quản lý và sử dụng đất đai, các hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Theo Giáo trình “Luật Đất đai” của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản (Nxb) Công an nhân dân, 2016, Tố cáo về đất đai là “sự phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân thuộc các đơn vị đó hoặc của những người khác, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích của người sử dụng đất”. Khoản 1, Điều 205 của Luật Đất đai 2013 quy định: “Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai” Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Tố cáo về đất đai là việc công dân, cá nhân theo quy định của Luật Tố cáo và Luật Đất đai báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của bất cứ cơ quan, tổ chức cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Như vậy, theo khái niệm này, chủ thể được quyền tố cáo về đất đai là công dân, cá nhân.
Đối tượng của tố cáo là những hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý và sử dụng đất đai của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào. Mục đích của tố cáo nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo vệ và khôi phục quyền và lợi ích của người tố cáo mà cao hơn thế là bảo vệ lợi ích của Nhà nước, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước vững về chính trị, giỏi về chuyên môn để “chí công, vô tư” trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ quản lý nhà nước nói chung và quản lý đất đai nói riêng. Đặc điểm của tố cáo trong lĩnh vực đất đai Thứ nhất, giải quyết tố cáo về đất đai mang tính quyền lực nhà nước, là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, thủ trưởng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đồng thời là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Khoản 2, Điều 30, Hiến pháp năm 2013 quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết tố cáo. Luật Tố cáo quy định cụ thể người đứng đầu các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Tuy nhiên, thẩm quyền giải quyết tố cáo về đất đai chủ yếu do người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước giải quyết, vì cơ quan hành chính nhà nước được giao nhiệm vị quản lý nhà nước về đất đai. Đối với nước ta, bên cạnh trách nhiệm giải quyết tố cáo về đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn có sự tham gia của cả hệ thống chính trị.
Đó là sự lãnh đạo của Đảng, của các cấp ủy đảng và các tổ chức đảng, sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội… nhằm góp phần giải quyết tố cáo nói chung và tố cáo về đất đai nói riêng có hiệu quả. Thứ hai, việc giải quyết tố cáo phải tuân theo quy định của pháp luật về tố cáo, pháp luật về đất đai và pháp luật có liên quan. Pháp luật đất đai quy định cá nhân có quyền tố cáo các vi phạm về quản lý và sử dụng đất đai. Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về đất đai được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.
Việc giải quyết tố cáo về đất đai cơ bản giống như trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo nói chung. Khi giải quyết tố cáo về đất đai, người giải quyết tố cáo, cơ quan được giao xác minh, kết luật tố cáo phải căn cứ vào các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai để xác định những nội dung tố cáo có vi phạm hay không vi phạm pháp luật, từ đó có kết luận, xử lý chính xác. Thứ ba, việc giải quyết tố cáo về đất đai mang tính cá biệt, cụ thể và phức tạp. Việc giải quyết tố cáo chỉ trong phạm vi nội dung, đối tượng bị tố cáo.
Tố cáo nội dung nào, đối tượng nào thì xác minh, kết luận nội dung, đối tượng đó. Việc giải quyết tố cáo về đất đai thường rất phức tạp; vì tố cáo về đất đai không chỉ bắt nguồn từ những nguyên nhân có tính lịch sử trong quản lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ, những xung đột gay gắt về lợi ích kinh tế mà còn từ hệ quả của sự quản lý thiếu hiệu quả của cơ quan hành chính nhà nước, sự bất hợp lý và thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật 9 đất đai, sự thiếu trách nhiệm, không công tâm, khách quan của một bộ phận cán bộ, công chức, người đứng đầu trong quá trình thực thi công vụ. - Về chủ thể có quyền tố cáo trong lĩnh vực đất đai: Chủ thể của tố cáo là cá nhân, công dân; vì tố cáo làm phát sinh những hậu quả pháp lý và trách nhiệm pháp lý gắn với cá nhân, công dân khi tố cáo. Trong lĩnh vực đất đai, chủ thể của tố cáo được quy định là công dân.
Và để cụ thể hơn, Luật Đất đai năm 2013 còn chỉ rõ người sử dụng đất có quyền tố cáo về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai. Điều này xuất phát từ đặc điểm Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước là đại diện sở hữu. Như vậy, đó là lẽ thường tình khi nhân dân giám sát, theo dõi, kiểm tra nhà nước quản lý và sử dụng tài sản của mình.
Trên cơ sở giám sát những hoạt động ấy, công dân sẽ phát hiện ra những sai phạm trong lĩnh vực đất đai của cá nhân, tổ chức hay của nhà nước gây ảnh hưởng đến lợi ích chung và lợi ích riêng hợp pháp. Như vậy, quy định công dân có quyền tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý và sử dụng đất là phù hợp với đặc điểm của hành vi tố cáo. - Về đối tượng của tố cáo trong lĩnh vực đất đai: Là hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Hành vi vi phạm pháp luật có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc có thể không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo.
Cá nhân có quyền tố cáo ngay cả khi hành vi mới đe dọa gây thiệt hại nên khả năng phòng ngừa, ngăn chặn và giảm các thiệt hại gây ra là rất cao.