Thúc đẩy xúc tiến thương mại dịch vụ Gold Supplier tại Miền Trung của Công ty OSB

Luận văn phân tích thực trạng xúc tiến thương mại dịch vụ Gold Supplier tại miền Trung của công ty OSB, đồng thời đề xuất giải pháp thúc đẩy hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

95
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và vai trò của xúc tiến dịch vụ Gold Supplier

Xúc tiến dịch vụ Gold Supplier là một chiến lược marketing quan trọng nhằm nâng cao nhận thức và thu hút khách hàng đối với các dịch vụ cấp độ cao trong kinh tế nền tảng. Tại thị trường miền Trung, dịch vụ Gold Supplier đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào thương mại điện tử và xuất khẩu. Công ty Cổ phần Đầu tư và Công nghệ OSB cần tập trung vào xúc tiến thương mại hiệu quả để xây dựng lợi thế cạnh tranh. Dịch vụ này không chỉ cung cấp hỗ trợ kỹ thuật mà còn giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường mớikhách hàng tiềm năng. Việc hiểu rõ nhu cầu của khách hàng tại miền Trung là yếu tố tiên quyết để xây dựng chiến lược xúc tiến dịch vụ phù hợp và hiệu quả nhất.

1.1. Định nghĩa xúc tiến thương mại trong kinh tế nền tảng

Xúc tiến thương mại là hoạt động tiếp thị nhằm tăng cường sự hiểu biết và mua sắm của khách hàng. Trong kinh tế nền tảng, xúc tiến này tập trung vào việc quảng bá các dịch vụ kỹ thuật sốhỗ trợ thương mại điện tử. Dịch vụ Gold Supplier cung cấp xác thực chất lượng, hỗ trợ thanh toán an toàn và quản lý chuỗi cung ứng cho các nhà bán hàng. Việc xúc tiến dịch vụ này giúp tăng độ tin cậy của nền tảng và khuyến khích tham gia của các doanh nghiệp.

1.2. Tầm quan trọng của dịch vụ Gold Supplier tại miền Trung

Thị trường miền Trung đang phát triển với tốc độ nhanh chóng trong lĩnh vực thương mại điện tử. Dịch vụ Gold Supplier mang lại tin cậy và độ minh bạch cho các giao dịch thương mại. Với sự gia tăng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhu cầu về xác thực chất lượng nhà cung cấp trở nên cấp bách. Điều này tạo cơ hội lớn cho OSB phát triển chiến lược xúc tiến nhằm giới thiệu lợi ích dịch vụ đến các doanh nhân địa phương.

II. Thực trạng hoạt động xúc tiến dịch vụ Gold Supplier tại Miền Trung

Hiện nay, hoạt động xúc tiến dịch vụ Gold Supplier tại miền Trung vẫn còn gặp nhiều thách thức. Công ty OSB đang đối mặt với thực tế là nhận thức của doanh nghiệp về lợi ích của dịch vụ này còn hạn chế. Tỷ lệ chuyển đổi khách hàng từ cấp bậc thông thường lên Gold Supplier vẫn thấp do thiếu thông tin đầy đủchiến lược truyền thông chưa hiệu quả. Thị trường miền Trung có đặc thù riêng với đa số doanh nghiệp vẫn sử dụng phương thức kinh doanh truyền thống. Các yếu tố này đòi hỏi OSB phải điều chỉnh chiến lược marketing để phù hợp với tính chất địa phương và nâng cao tỷ lệ chuyển đổi khách hàng.

2.1. Tình hình nhận thức của khách hàng miền Trung

Khách hàng tại miền Trung chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ vừa chưa có kinh nghiệm nhiều trong thương mại điện tử. Nhận thức về Gold Supplier còn mơ hồ, với nhiều người chưa hiểu rõ tính năng và lợi ích cụ thể. Sự tin tưởng vào dịch vụ phụ thuộc lớn vào giới thiệu của những doanh nhân có kinh nghiệm hơn. Thiếu các hoạt động xúc tiến trực tiếpsự kiện quảng bá tại địa phương.

2.2. Các thách thức trong xúc tiến thương mại tại miền Trung

Chi phí xúc tiến cao nhưng hiệu quả chưa tương xứng do phương thức tiếp cận chưa phù hợp. Cạnh tranh với các dịch vụ tương tự ngày càng gay gắt từ những nền tảng thương mại khác. Hạn chế về nguồn nhân lực địa phương am hiểu về dịch vụ Gold Supplier. Khoảng cách địa lý khiến việc theo dõi khách hàngcung cấp hỗ trợ trở nên phức tạp.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến xúc tiến dịch vụ Gold Supplier

Hoạt động xúc tiến dịch vụ Gold Supplier bị tác động bởi nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài. Từ phía bên trong, năng lực của đội ngũ marketing, ngân sách xúc tiếnchất lượng dịch vụ là những yếu tố then chốt. Từ phía bên ngoài, tình hình kinh tế của miền Trung, xu hướng phát triển thương mại điện tử, và chính sách của nền tảng ảnh hưởng lớn. Nhu cầu của doanh nghiệp về xác thực nhà cung cấp thay đổi theo mùa và tình hình kinh doanh. Hiểu rõ các yếu tố này giúp OSB tối ưu hóa chiến lược xúc tiếnđạt được hiệu quả cao nhất.

3.1. Các yếu tố nội bộ của công ty OSB

Năng lực nhân sự của phòng Marketing và Sales ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng xúc tiến. Ngân sách tiếp thị còn hạn chế so với nhu cầu thực tế của thị trường miền Trung rộng lớn. Hệ thống quản lý dữ liệu khách hàng chưa đủ hiệu quả để theo dõi và đánh giá kết quả xúc tiến. Chất lượng dịch vụ Gold Supplier cần được cải thiện liên tục để tăng độ hấp dẫn đối với khách hàng.

3.2. Các yếu tố bên ngoài trong môi trường thị trường

Tình hình phát triển kinh tế của miền Trung tạo cơ hội và thách thức cho hoạt động xúc tiến. Nhu cầu thực tế của doanh nghiệp thay đổi theo chu kỳ kinh doanhmùa vụ. Chính sách và quy định của nền tảng thương mại điện tử có tác động đến cách thức xúc tiến. Sự cạnh tranh từ các dịch vụ tương tự yêu cầu OSB phải đổi mới không ngừng trong chiến lược xúc tiến thương mại.

IV. Giải pháp xúc tiến dịch vụ Gold Supplier hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả xúc tiến dịch vụ Gold Supplier tại miền Trung, OSB cần thực hiện các giải pháp toàn diện. Thứ nhất, phát triển chiến lược xúc tiến đa kênh kết hợp phương thức truyền thống và kỹ thuật số. Thứ hai, tăng cường đào tạo và hỗ trợ cho các doanh nhân địa phương để nâng cao nhận thức. Thứ ba, xây dựng chương trình khuyến khích dành cho khách hàng chuyển đổi lên Gold Supplier. Thứ tư, thiết lập các điểm tiếp xúc địa phương để cung cấp hỗ trợ trực tiếp. Những giải pháp này cần được kết hợp hài hòa để tạo ra tác động tổng thể mạnh mẽ trên thị trường miền Trung.

4.1. Chiến lược xúc tiến đa kênh phù hợp với thị trường miền Trung

Xúc tiến trực tiếp thông qua sự kiện và hội thảo tại các tỉnh thành miền Trung. Xúc tiến kỹ thuật số via mạng xã hội, email marketingquảng cáo trực tuyến nhắm tới đối tượng doanh nhân. Hợp tác với các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp địa phương. Quảng bá thông qua các nền tảng nội bộ để tiếp cận khách hàng hiện tại và khuyến khích nâng cấp dịch vụ.

4.2. Chương trình khuyến khích và hỗ trợ khách hàng

Chương trình ưu đãi dành cho khách hàng chuyển đổi lên Gold Supplier trong thời gian giới hạn. Hỗ trợ kỹ thuật miễn phíđào tạo sử dụng dịch vụ cho các doanh nhân mới. Xây dựng cộng đồng Gold Supplier để chia sẻ kinh nghiệmtăng cảm giác thân thuộc. Theo dõi và đánh giá hiệu quả xúc tiến thông qua chỉ số chuyển đổi khách hàngsự hài lòng.

18/12/2025
Thúc đẩy xúc tiến thương mại đối với dịch vụ gold supplier tại thị trường miền trung của công ty cổ phần đầu tư và công nghệ osb

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu  Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động xúc tiến thương mại của Công ty kinh doanh  Chương 3: Thực trạng hoạt động xúc tiến thương mại đối với dịch vụ Gold Supplier tại thị trường miền Trung của Công ty Cổ phần Đầu tư và Công nghệ OSB  Chương 4: Các giải pháp thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại đối với dịch vụ Gold Supplier tại thị trường miền Trung của Công ty Cổ phần Đầu tư và Công nghệ OSB 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CỦA CÔNG TY KINH DOANH 2. Khái quát về xúc tiến thương mại 2. Khái niệm xúc tiến thương mại Thuật ngữ "Promotion" có nguồn gốc từ tiếng latinh, nghĩa là "tiến lên phía trước" (move toward). Trong marketing, nó mang ý nghĩa tương tự: Thúc đẩy mọi người tiến tới một thái độ, một hành vi một hành động nào đó (ưa thích thử dùng sản phẩm mua sản phẩm gắn bó và trung thành, v.

Xúc tiến thương mại (marketing promotion) là thuật ngữ xuất hiện từ những năm đầu của thế kỷ 20 cùng với sự hình thành và phát triển của khái niệm marketing. Xúc tiến thương mại gắn liền với hoạt động của thị trưởng và là một bộ phận không thể tách rời trong mô hình marketing hỗn hợp (Marketing - Mix) của bất cứ doanh nghiệp nào. Xúc tiến thương mại được định nghĩa theo nhiều cách: - Trong cuốn "Essentials of Marketing", các tác giả C. McDaniel đã đưa ra định nghĩa như sau: "Xúc tiến thương mại là việc truyền tin giữa người bán và người mua hay những khách hàng tiềm năng khác nhằm tác động vào hành vi và quan điểm của người mua hàng.

Chức năng xúc tiến thương mại là mách bảo cho khách hàng mục tiêu biết đúng sản phẩm, đúng chỗ và đúng giá". Goodwin (trong cuốn "Marketing Information") đưa ra khái niệm: "Xúc tiến thương mại là một lĩnh vực hoạt động marketing đặc biệt có chủ đích được định hướng vào việc chào hàng, chiêu khách và xác lập một quan hệ thuận lợi nhất giữa doanh nghiệp với các đối tác và tập khách hàng tiềm năng nhằm triển khai các chính sách thuộc chương trình marketing hỗn hợp đã lựa chọn của doanh nghiệp". - Luật Thương mại Việt Nam (1999) thì sử dụng thuật ngữ "xúc tiến thương mại" và đưa ra định nghĩa: "Xúc tiến thương mại là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ thương mại, bao gồm các hoạt động quảng cáo, hội chợ triển lãm và khuyến mại". Sau lần sửa đổi vào năm 2005, định nghĩa này được rút ngắn lại và mang tính khái quát hơn, khi các nhà quản lý nhận thấy rằng các phương 7 thức xúc tiến luôn mở rộng và thay đổi.

Theo đó: “Xúc tiến thương mại là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ thương mại”. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận nhưng về cơ bản, xúc tiến thương mại được hiểu là hoạt động trao đổi thông tin giữa người bán và người mua hoặc qua khâu trung gian nhằm tác động tới thái độ và hành vi mua bán qua đó thúc đẩy việc mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ năng động, nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh và hiệu quả cao hơn, mở rộng và phát triển thị trường. Tại các doanh nghiệp, xúc tiến thương mại còn được gọi là xúc tiến hỗn hợp (Promotion - Mix). Điều này là do việc sử dụng phối hợp thống nhất nhiều công cụ, cách thức xúc tiến khác nhau trong các chương trình xúc tiến của doanh nghiệp.

Khi mở rộng các hoạt động kinh doanh ra phạm vi quốc tế, khách hàng là người tiêu dùng ở các quốc gia khác nhau, xúc tiến thương mại trở thành xúc tiến quốc tế. Hiểu một cách đơn giản, xúc tiến thương mại quốc tế là hoạt động xúc tiến nhằm vào các đối tượng nhận tin trong thị trường các quốc gia khác nhau. Các chương trình xúc tiến quốc tế về cơ bản vẫn dựa trên những nguyên lý chung của hoạt động xúc tiến nội địa nhưng cần thay đổi để phù hợp với đối tượng nhận tin tại các thị trường quốc tế và thích nghi linh hoạt với những nhân tố tác động trong môi trường kinh doanh và truyền thông quốc tế. Xúc tiến thương mại hay là một bộ phận trong toàn bộ chương trình marketing mà nhà quản trị marketing phải xây dựng, thực hiện và kiểm soát.

Là biến số thứ tư trong marketing - mix, xúc tiến đảm nhiệm chức năng thông tin, thuyết phục và gây ảnh hưởng đến quyết định mua của người tiêu dùng và phải được phối kết trong một chương trình marketing tổng thể.1 mô tả mối quan hệ giữa chính sách xúc tiến và các thành phần khác của chiến lược chung marketing nhằm đạt thành mục tiêu tổ chức và đem lại lợi ích cho khách hàng. Khi triển khai hỗn hợp marketing, nhà quản trị cần phải thiết lập các mục tiêu và mục đích cho chính sách xúc tiến của doanh nghiệp căn cứ vào mục tiêu marketing và mục tiêu của tổ chức. Sau đó dựa vào mục tiêu này cùng các công cụ xúc tiến thương mại (quảng cáo, bán hàng cả nhân, xúc tiến bán và quan hệ công chúng.) để hình thành một kế hoạch xúc tiến hợp nhất. Điều này giúp cho xúc tiến trở thành bộ phận trọn vẹn 8 của chiến lược marketing tổng thể thích ứng đồng bộ với phân đoạn thị trường đã lựa chọn.

Vị trí của chính sách xúc tiến thương mại trong chiến lược marketing 2. Các hình thức xúc tiến thương mại Xúc tiến thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm 4 hình thức chính: Khuyến mại Hoạt động khuyến mại là hình thức xúc tiến thương mại nhằm kích thích nhu cầu mua hàng của khách hàng bằng cách giảm giá, tặng quà, dùng thử miễn phí, mua nhiều giá sỉ, tặng voucher, v. Căn cứ theo điều 88 Luật Thương mại 2005, thương nhân được coi là thực hiện khuyến mại có hoạt động thuộc một trong 2 trường hợp sau đây: 9  Thương nhân trực tiếp khuyến mại hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh;  Thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác theo thỏa thuận với thương nhân đó.  Một số hình thức khuyến mại được pháp luật cho phép được quy định theo điều 92 Luật Thương mại 2005, thương nhân được thực hiện các hoạt động sau:  Đưa hàng hóa mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền.

 Tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền.  Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ.  Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định.

 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.  Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.  Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức khác.  Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.

 Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về thương mại chấp thuận. Ví dụ: Một cửa hàng có chương trình khuyến mại “Mua 1 tặng 1” cho các sản phẩm thức uống dịp lễ Valentine 14/02. Quảng cáo thương mại 10 Hoạt động quảng cáo thương mại là hình thức xúc tiến thương mại nhằm truyền đạt thông tin về hàng hoá và dịch vụ đến khách hàng tiềm năng bằng các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh, truyền hình, internet, biển quảng cáo, v. Cụ thể, tại điều 102 Luật Thương mại 2005, pháp luật đã quy định: “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình”.

Theo đó, các hoạt động quảng cáo thương mại sẽ bao gồm các phương tiện sau, căn cứ theo khoản 2 Điều 106, Luật Thương mại 2005:  Các phương tiện thông tin đại chúng;  Các phương tiện truyền tin;  Các loại xuất bản phẩm;  Các loại bảng, biển, băng, pa-nô, áp-phích, vật thể cố định, các phương tiện giao thông hoặc các vật thể di động khác;  Các phương tiện quảng cáo thương mại khác. Ví dụ: Một công ty du lịch có chiến dịch quảng cáo “Du lịch Việt Nam - Đi để yêu” trên các kênh truyền hình, báo điện tử và mạng xã hội để giới thiệu các điểm đến hấp dẫn và ưu đãi cho khách hàng. Trưng bày, giới thiệu hàng hoá và dịch vụ Hoạt động trưng bày, giới thiệu hàng hoá và dịch vụ là hình thức xúc tiến thương mại nhằm giới thiệu và thuyết phục khách hàng về chất lượng, tính năng, ưu điểm của hàng hoá và dịch vụ bằng cách tổ chức các sự kiện như triển lãm, hội thảo, buổi thử nghiệm, buổi tư vấn, v. Theo quy định pháp luật tại điều 117 Luật Thương mại 2005, “hoạt động trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân dùng hàng hoá, dịch vụ và tài liệu về hàng hoá, dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về hàng hoá, dịch vụ đó”.

Một số hình thức trưng bày, giới thiệu hàng hoá và dịch vụ theo điều 120 Luật Thương mại 2005 bao gồm: 11  Mở phòng trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ.  Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ tại các trung tâm thương mại hoặc trong các hoạt động giải trí, thể thao, văn hoá, nghệ thuật.  Tổ chức hội nghị, hội thảo có trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ.  Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ trên Internet và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ