chương 1. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển các công trình xây dựng có qui mô lớn, móng cọc ngày càng trở thành một hình thức móng sâu được dùng nhiều cho công trình công nghiệp, nhà cao ting, cầu đường, bến cảng. ở những vùng đất yếu. Coe khoan nhồi và tường barrette là một trong những giải pháp móng được áp dụng khá phổ biển đẻ xây dựng nhà cao ting trên thé giới và ở Việt Nam vào.
những năm gin đây, bởi cọc khoan nhỏi, tường barrette đáp ứng được các đặc điểm riêng biệt của nhà cao tầng như: + Tải trọng tập trung rit lớn ở chân các cột. + Nhà cao tầng rất nhạy cảm với độ lún, đặc biệt là lún lệch vì lún sẽ gây tác. động rất lớn đến sự làm việc tông thể của toàn bộ toà nha, + Nhà cao ting thường được xây dựng trong khu vục đông dan cư, mật độ nhà có sẵn khá day. Vì vậy vấn dé chống rung động và chống lún để đảm bảo an toàn cho các công trình lân cận là một đặc điểm phải đặc biệt lưu ý trong xây dug loại nhà này.
Vi vậy, nghiên cứu và lựa chọn giải pháp xử lý nền móng trong xây dung, nhà cao ting trong điều kiện ở Việt Nam vừa cô ý nghĩa khoa học vừa có giá trị thực tiễn cao. Luận văn Thạc sĩ 10 Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn Chương 2: LÝ THUYẾT CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NEN MONG CÔNG TRÌNH. “Trong thi công công trình trong các thành phổ, do yêu cầu phải tận dụng tối đa đất đai xây dựng nền cọc khoan nhỏi và tường barrette phải thẳng đứng, chịu áp lực của áp lực đất, tải trọng của các công trình liền kể hồ đảo, tải trọng máy móc thiết bị thi công ở biên hố đảo, áp lực của nước ngầm đẩy trồi hố đào gây nên. Nhà caoting đòi hỏi nén móng phải chịu được tai trọng lớn, độ chống thắm cao, ít ảnh hưởng đến các công trình liễn kể.
Các giải pháp xử lý nền móng thường gặp. Xử lý nền bằng cọc gỗ (hoặc tre). Được áp dụng với công trình chịu tải trọng nhỏ như (móng nhà dân, các tường kè nhỏ, cổng nhỏ. Coe gỗ (hoặc tre) chỉ sử dụng được ở những vùng đất luôn dm ướt, ngập nước để không bị mục nước, nếu đóng trong đắt khô hoặc khô ướt thay đổi thì gỗ bị mục nát và làm nền đất yếu đi.
Trong thực tế cọc tre, cọc gỗ được sử dụng như là một giải pháp gia cố nền cho những công trình có tai trọng truyền xuống không lớn và phải được sử dung ở những nơi dat luôn 4m ướt, khi đó thời gian sử dụng sẽ cao đến 50 - 60 năm. Coc gỗ thường hay dùng cho những trụ cầu gỗ nhỏ, nhất là cầu qua suối ở vùng trung du và miễn núi. Coe gỗ (hoặc tre) có ưu điểm là tận dụng được vật liệu địa phương, bi pháp thí công đơn giản, giá thành thấp, tién độ thi công nhanh, thường được người dân sử dung để xử lý nền khi làm nhà ở, 2. Coe thép Trong xây dựng hiện đại, cọc thép cũng được sử dung nhiều cho các giải pháp móng cọc.
Coe thép thường được chế tạo từ thép ông hoặc thép hình cán Luận văn Thạc sĩ 11 Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn nóng. Các đoạn cọc thép được néi hàn, chiéu cao đường hàn phải theo qui định của thiết kế - Đường kính cọc thép từ 16 ~ 150 em, - Độ dày thành ống từ 6 ~ 14 mm. - Độ sâu đóng cọc: tủy theo đặc điểm công trình, cọc thép có thể đóng sâu tới 50m. ~ Ưu điểm của cọc thép: trọng lương nhỏ; cọc bền và cứng, it hư hỏng trong quá trình vận chuyển và thi công; với các công trình móng cọc, sử dụng cọc thép day nhanh được tiến độ xây dựng.
Tuy nhiên giá thành cọc thép lớn hơn nhiều so với cọc bê tông, thiết bị đóng cọc phái chuyên dùng hơn, nên trước khi sử dụng phải tinh toán cụ thể để mang lại hiệu quả kinh tẾ cao nhất - Phạm vi sử dung: Coc thép được sử dụng trong xây dựng dân dụng và công nghiệp, đặc biệt là các công trình cầu, bến bốc dỡ và cầu cảng. Xử lý nên bằng cọc cắt, Coe cát là một giải pháp xử lý nền được áp dụng phổ biển đối với các trường hop công trình có tải trọng không lớn trên địa tầng có dạng cơ bản với cl lớp đất yếu tương đối lớn. Coc cát có một số đặc điểm sau: Có tác dụng làm cho độ rỗng, độ Am của nén giảm di, trọng lượng thể tích, môdun bi dang, lực dính và góc ma sat trong tăng lên do vậy biển dạng của nền giảm và cường độ nền ting. Khi xử lý nền bằng cọc cát nền đất được nén chặt lai, do sức chịu tải của nền tăng lên, độ lún và biến dang không đồng đều của nền đất dưới dé móng các công trình giảm đi một cách đáng kể.
Dưới tác dụng của tải trọng, cọc cát và vùng đất được nén chặt xung quanh cọc cùng làm việc đồng thời, đất được nén chặt đều trong khoảng giữa các cọc. Luận văn Thạc sĩ 12 Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn Khi đùng cọc cát quá trình ó kết của ất diễn biển nhanh hơn nhiều so với nền đất thiên nhiên hoặcnén đắt ding cọc cứng. Khi trong nén có cọc cát thì ngoài tác dụng nén chặt đất, còn làm việc như các giếng cát thoát nước, nước trong đất có điều kiện thoát ra nhanh theo chiểu dài cọc dưới tác dụng của tải trọng ngoài, do đó cải thiện được tình hình thoát nước của nền đất, điều này là không thé có được đối vớinn đắt thiên nhiên hoặc nên có sử dụng các loại cọc cứng. Phần lớn độ lún của nền đất có cọc cát thường kết thúc trong.
quá tình thi công do đó tạo điều kiện cho công trình mau chóng đạt được đến giới hạn ôn định. Vat liệu đùng oge cát rất thuận lợi, đồi dào và rẻ hơn nhiều so với các loi vật liệu làm các loại cọc cứng như: gỗ, thép, bê tông, bê tông cốt thép và không bị ăn mòn nếu nước ngầm có tính xâm thực. mặt thi công, cọc cát có phương pháp thi công tương đối đơn giản, không. đồi hỏi thiết bị phức tạp.
6 Việt Nam cọc cát đã được áp dụng vào các công trình lớn như: + Dự án mở rộng đường Láng ~ Hoà Lạc đoạn qua các huyện Từ Liêm, Quốc Oai, Thạch That, thành phố Hà Nội. + Dự án đường cao tốc thành phố Hỗ Chi Minh ~ Trung Lương đoạn nối từ “Tân Tạo đi chợ đệm (KM0+800 đến KM§+200) + Dự án xử lý nên các nhà kho chứa sét của nhà máy xi măng Cái Lân, thị xã Cảm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Hiện nay hàng loạt đường cao tốc liên tinh dang sử dụng rit thành công. theo phương pháp này.4, Xử lý nền bằng cọc xi măng đất (cọc trộn dưới đất sâu).
Coc xi măng đất là một phương pháp mới dùng để gia cổ nền đất yếu, nó sir dụng xi mang, vôi. để làm chất đóng rắn, nhờ vào máy trộn dưới sâu dé trộn cưỡng bức đất yếu với chất đóng rắn (dung dịch hoặc dạng bột), lợi dụng một Luận văn Thạc sĩ 13 Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn loạt các phản ứng hoá học - vat lý xảy ra giữa chất đóng rắn với đất, làm cho đắt c có tính chỉnh thể, tính én định và có cường Phương pháp này thích hợp với các loại đất được hình thành từ các nguyên nhân khác nhau như dat sét bão hoà, bão hoà bàn nhão, dit bùn, dat sét và đất sét bột. Độ sâu gia cố từ 50-:-60m nhưng lại hiệu quả nhất cho độ sâu gia cố từ 15--20m và loại đất yếu khoáng vật dit sét có chứa đá cao lanh, đá cao lanh nhiều nước và đá măng tô thì hiệu quả tương đối cao, gia cố loại đất tính sét có chứa đá silic và hàm lượng chất hữu cơ cao, độ trung hoà pH tương đối thấp thấp. Coe xi măng đất được áp dụng rộng rã trong xử lý nén móng và nền đất yếu cho các công trình: Xây dựng giao thông, Thuỷ lợi, Sân bay, Bến cảng.
làm tường hào chống thấm cho đê đập, sữa chữa thấm mang cống và đáy cống, gia cố đất xung quanh đường him, én định tường chắn, chống trượt cho mái gia cố nền đường, mồ cầu dẫn. Phương pháp thi ng nhanh, tiết kiệm thời gian thi én 50% do không phải chờ đúc cọc và đạt đủ cường độ, kỹ thuật thi công không phức tap, không có yêu tổ rủi ro cao Hiệu quả kinh té cao, giá thành hạ hơn nhiều so với phương án cọc đồng, rất thích hợp cho công tác xử lý nền, xử lý móng cho các công trình ở các khu vực yếu như bãi bồi, ven sông, ven biển. Thi công được trong điều kiện mặt bằng chật hẹp, mặt bằng ngập nước. Xử lý nền bằng cọc ép (Coc BTCT).
Coe ép thâm nhập vio nước ta qua một vai tài liệu nước ngoài được gọi là cọc Mega (tên một hãng xây dựng Pháp). Coc ép li một thuật ngữ được dùng trong tài liệu kỹ th tế: pressed pile (anh). Ở nước ta, từ năm 1986 đến Luận văn Thạc sĩ 14 Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn nay, việc sử dụng cọc ép ngày cảng rộng rải, nhất là trong việc gia cỗ và xây chen trong thành phố. Coe ép là cọc được chế tạo sẵn, vận chuyển đến công trình và hạ đến độ sâu thiết kế bằng phương pháp ép tĩnh.
Về vật liệu chế tạo cọc ép có thê là BTCT, cọc thép. Tuy nhiên ở điều kiện xây dựng nước ta hiện nay, trong các giải pháp. móng coe, hầu như chỉ ding cọc BTCT, nên chúng ta chỉ di sâu vào cọc ép bê tông cốt thép đúc sẵn. Coe bê tông đúc s in có hai loại: Coc bê tông đúc sẵn thông thường và cọc bê tông đúc sẵn dự ứng lực kéo trước.
Cọc thường có inh vuông, cạnh cọc có kích thước 0,1 đến 1,0m. Ở Việt Nam hay dùng kích thước 0.4m, mác bê tông thường được đùng cho cọc là 250--300 Kg/emỶ, còn với cọc bê tông dự ‘mg lực thường dùng 350-:-450 Kg/em’. © Việt Nam hiện nay phương pháp xử lý nền bằng cọc đóng được dùng rat phổ biến, nó được áp dụng cho những công trình có tải trọng không lớn, chiều sâu lớp đất yếu không quá sâu như nhà dân có chiều cao < 5 ting, móng trạm. bơm, cổng tưới tiêu có qui mô lén, móng cầu có tải trong nhỏ.