CHƯƠNG 1: Địa chất khu vực quận 7 được chia làm 3 vùng địa chất khác nhau. Dựa vào quy hoạch và đặc điểm khai thác các tuyến đường tác giả kiến nghị đi vào nghiên cứu và tính toán các tuyến đường có cấp kỹ thuật cấp IV, với bề rộng nền đường là 30m, chiều cao đắp H=2m. HVTH: Nguyễn Anh Đào – Lớp XD Đường Ôtô & TP K17 Trang 18 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: PGS. Nguyễn Văn Hùng CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN GIẢI PHÁP XỬ LÝ ĐẤT YẾU KHI XÂY DỰNG NỀN ĐƯỜNG ÔTÔ ĐẮP TRÊN ĐẤT YẾU Ở TP.
HỒ CHÍ MINH. Các giải pháp không cải thiện nền đất yếu trong quá trình xây dựng [5][6][7] Đây là các giải pháp thường được sử dụng. Khi áp dụng các biện pháp này phải nhằm đạt được hai mục tiêu: - Đảm bảo sự ổn định của nền đắp đầu cầu trong khi xây dựng. - Đạt được một tốc độ lún phù hợp với thời gian thi công.
Khi áp dụng các biện pháp này thì yêu cầu lớp trên nền đất yếu phải tiếp xúc với một lớp vật liệu thấm nước tốt. Nếu vật liệu đắp nền đường là đất dính thì phải làm một lớp đệm cát có chiều dày từ 0,5m đến 1m để tăng nhanh thời gian cố kết. Đắp nền theo từng giai đoạn Khi cường độ ban đầu của nền đất yếu rất thấp, để đảm bảo cho nền đường ổn định cần áp dụng biện pháp tăng dần cường độ của nó bằng cách đắp đất từng lớp một, chờ cho đất nền cố kết, sức chịu tải tăng lên, có khả năng chịu được tải trọng lớn hơn thì mới đắp lớp đất tiếp theo. Đắp trực tiếp trên đất yếu chỉ đảm bảo ổn định khi chiều cao đất đắp (bao gồm cả phần đắp dự phòng lún) chiều cao đắp giới hạn Hgh.
Do vậy để áp dụng được giải pháp này phải tính dự báo độ lún tổng cộng và phải xác định được Hgh tuỳ thuộc vào sức chống cắt ban đầu và bề dày tầng đất yếu. Để xác định Hgh một cách nhanh chóng ngoài việc sử dụng các chương trình tính toán ổn định đã được lập sẵn như Geo - Slope. rất nhiều các tác giả đã tính và lập sẳn các toán đồ tiện dụng để tra Hgh tuỳ theo các yếu tố nói trên (toán đồ Taylor, Madel Salencom. Rõ ràng khi chiều cao đất đắp cao và độ lún lớn thì không thể đắp trực tiếp được.
HVTH: Nguyễn Anh Đào – Lớp XD Đường Ôtô & TP K17 Trang 19 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: PGS. Nguyễn Văn Hùng Hình 2. Giải pháp đắp nền đường đầu cầu theo từng giai đoạn Đắp dần theo giai đoạn (vừa đắp vừa chờ) là lợi dụng tối đa quảng thời gian thi công cho phép để tăng chiều cao đất đắp trực tiếp lên trị số Hgh. Theo cách này đất đắp đến Hgh gọi là giai đoạn I, tiếp đó duy trì tải trọng đắp trong một thời gian t1 nhất định để chờ đất yếu phía dưới cố kết (tức là chờ cho sức chống cắt của đất yếu tăng thêm theo mức độ cố kết đạt được trong thời gian t1) nhờ đó có thể tăng chiều cao đắp lên đến HghII (chiều cao đắp giới hạn sau khi đắp đến Hgh và chờ một thời gian t1).
Đến đây lại có thể chờ để đắp giai đoạn III lên HghIII. Trong quá trình đắp để tăng độ an toàn thi công nhiều tư vấn nước ngoài đã khống chế tốc độ đắp trung bình là 5cm/ngày trong một số xây dựng qua vùng đất yếu của nước ta. Giải pháp này rõ ràng bị khống chế bởi thời gian chờ cho phép phụ thuộc vào cách tính toán dự báo cố kết U=f(t)) 2. Đắp bệ phản áp Bệ phản áp dùng khi đắp nền đường trực tiếp trên đất yếu với tác dụng tăng mức độ ổn định chống trượt trồi cho nền đường để đạt các yêu cầu về ổn định.
Bệ phản áp có vai trò như một đối trọng, tăng độ ổn định và cho phép đắp nền đường với các chiều cao lớn hơn, do đó đạt được độ lún cuối cùng trong một HVTH: Nguyễn Anh Đào – Lớp XD Đường Ôtô & TP K17 Trang 20 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: PGS. Nguyễn Văn Hùng thời gian ngắn hơn. Bệ phản áp còn có tác dụng phòng lũ, chống sóng, chấm thấm nước…So với việc làm thoải độ dốc taluy, đắp bệ phản áp với một khối lượng đất đắp bằng nhau sẽ có lợi hơn do giảm được moomen của các lực trượt nhờ tập trung tải trọng ở chân taluy. Giải pháp sử dụng bệ phản áp vùng nối tiếp giữa cầu và đường Chiều cao bệ phản áp phải nhỏ hơn hoặc bằng chiều cao đắp trực tiếp giới hạn Hgh và nên từ 1/3 1/2 chiều cao nền đắp chính.
Để tiết kiệm đất, chiều rộng bệ phản áp L có thể rút xuống bằng (2/3 3/4) chiều dài chồi đất ứng với cung trượt nguy hiểm nhất (theo kinh nghiệm của một số nước chiều rộng L không cần phải chùm kín hết chiều dài chồi đất này). Bệ phản áp là giải pháp tăng độ ổn định của nền đắp chính nhưng cũng có thêm tác dụng là hạn chế thành phần lún do đất yếu bị đẩy ngang sang hai bên dưới tác dụng của tải trọng đắp chính. Phải đắp bệ phản áp cùng một lúc với nền đắp chính, tuy nhiên đắp không cần đầm nén chặt. Gia tải tạm thời Phương pháp gồm có việc đặt một gia tải (thường là 2m-3m nền đắp bổ sung) trong vài tháng rồi sẽ lấy đi ở thời điểm t mà ở đó nền đường sẽ đạt được độ lún cuối cùng dự kiến như trường hợp với nền đắp không gia tải.
Nói cách HVTH: Nguyễn Anh Đào – Lớp XD Đường Ôtô & TP K17 Trang 21 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: PGS. Nguyễn Văn Hùng khác đây là phương pháp cho phép đạt được một độ cố kết yêu cầu trong một thời gian ngắn hơn. Để có hiệu quả thì theo kinh nghiệm các nước, chiều cao đắp thêm không được nhỏ quá (thường từ 2 3m) và thời gian duy trì tải trọng đắp thêm này ít nhất là 6 tháng. Phần đắp gia tải trước không cần đầm nén và có thể dùng cả đất xấu lẫn hữu cơ.
Khi áp dụng giải pháp này cần đặc biệt chú ý kiểm toán sự ổn định của nền đắp khi có thêm tải trọng đắp gia tải trước và theo dõi khống chế tốc độ đắp phần đắp gia tải trước, nếu không rất dễ xảy ra mất ổn định trong quá trình đắp gia tải trước khi chiều cao đắp tổng cộng vượt quá chiều cao đắp giới hạn Hgh. Do đó giải pháp đắp gia tải trước cũng thường được kết hợp với giải pháp bệ phản áp. Gia tải phải phù hợp với điều kiện ổn định của nền đắp. Phương pháp này chỉ nên dùng khi chiều cao tới hạn cao hơn nhiều so với chiều cao thiết kế.
Giải pháp gia tải nền đường đắp cao đầu cầu 2. Nền đắp nhẹ Nền đắp nhẹ là giải pháp giảm trọng lượng nền đắp tác dụng lên đất yếu. Có thể sử dụng hai cách sau đây: - Giảm chiều cao nền đắp đến trị số tối thiểu cho phép căn cứ vào điều kiện địa chất thủy văn (đảm bảo chiều cao tối thiểu của nền đường cũng như chiều cao tối thiểu trên mực nước tính toán theo quy phạm). Nếu là nền đường ở bãi sông có thể giảm mực nước dâng bằng cách tăng khẩu độ cầu.
HVTH: Nguyễn Anh Đào – Lớp XD Đường Ôtô & TP K17 Trang 22 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: PGS. Nguyễn Văn Hùng - Dùng vật liệu nhẹ để đắp nền đường: sử dụng các vật liệu đắp có trọng lượng thể tích nhỏ thì có thể loại trừ các yếu tố bất lợi ản hưởng đến sự ổn định của nền đắp cũng như giảm nhỏ độ lún. Hiện nay ở các nước thường dùng: - Tro bay của nhà máy nhiệt điện để đắp nền trên đất yếu. Để dễ đầm nén nên ung loại tro bay cỡ hạt từ 0,001 2mm, trong đó lượng hạt < 0,074mm nên chiếm dưới 45% và phải có lượng tổn thất khi nung là dưới 12%, loại này thường có dung trọng khô là 0,9 1,2T/m3 (tỉ trọng 2,1 2,2T/m3); lực dính và góc nội ma sát theo kết quả cắt phẳng tương ứng độ chặt 95% ở trạng thái bão hòa là C = 6 20kPa và = 14 33o.
Trị số môđun đàn hồi có thể lấy từ 25 30Mpa. Với tro bay có thể xây dựng theo hai cách: + Đắp nền toàn bằng tro bay và dùng loại đất có chỉ số dẻo 6, bọc cả phần đáy nền và cả 2 bên taluy như kiểu đắp cát. + Đắp xen kẽ cứ hai lớp tro bay (mỗi lớp dày 15 20cm) lại đắp một lớp đất thường, hai bên mỗi lớp đều đắp đất bao loại có tính dính. - Dùng các miếng polistiren có kích thước 0,61,250,5m xếp thành nền đường, trên đỉnh nền nên rải một lớp bê tông cốt thép dày 10cm để làm tầng bảo vệ và phân bố đều áp lực.
Các lớp móng áo đường đặt trên lớp bê tông cốt thép này. - Ở nhiều nước đã dùng cách xếp ống cống (vuông hoặc tròn) để giảm tải trọng nền đắp cao nhất là tại các khu vực đầu cầu. Sử dụng vật liệu tăng cường địa kỹ thuật Nguyên lý của giải pháp này là dùng vải, lưới địa kỹ thuật làm cốt tăng cường ở đáy nền đắp, khu vực tiếp xúc giữa nền đắp và đất yếu. Do bố trí cốt như vậy khối trượt của nền đắp nếu xảy ra sẽ bị cốt chịu kéo giữ lại nhờ đó tăng thêm mức độ ổn định cho nền đắp.
Tùy theo lực kéo tạo ra lớn hay nhỏ chiều cao đắp an toàn có thể vượt quá chiều cao đắp giới hạn Hgh nhiều hay ít. HVTH: Nguyễn Anh Đào – Lớp XD Đường Ôtô & TP K17 Trang 23 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật GVHD: PGS. Nguyễn Văn Hùng Tăng cường ổn định bằng giải pháp này này thi công rất đơn giản nhưng chú ý rằng giải pháp này không có tác dụng giảm lún và do vậy nó chỉ có thể sử dụng một mình khi độ lún trong phạm vi cho phép. Xu thế phát triển của giải pháp này là sử dụng các loại lưới vải địa kỹ thuật để tăng ma sát giữa đất yếu và lưới (có lợi cho việc tạo ra lực kéo), thậm chí người ta đã sử dụng cả tầng đệm đáy bằng một lớp lồng cao 1m, các lồng này bằng lưới địa kỹ thuật kết cấu mạng tổ ong hoặc bằng lưới ô vuông polime móc chặt vào nhau sau đó đổ chặt sỏi cuội, đá vào trong các lồng đó.