CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐẤT YẾU TẠI HUYỆN NHÀ BÈ 1. Tổng quan về đất yếu: 1. Khái niệm: Nền đất là đất yếu nếu ở trạng thái tự nhiên, độ ẩm của chúng gần bằng hoặc cao hơn giới hạn chảy, hệ số rỗng lớn, lực dính C theo kết quả cắt nhanh không thoát nước từ 0.15 daN/cm2 trở xuống, góc nội ma sát từ 00 đến 100 hoặc lực dính từ kết quả cắt cánh hiện trường Cu ≤ 0. Có thể định nghĩa nền đất yếu theo sức kháng cắt không thoát nước, Su, và trị số xuyên tiêu chuẩn, N, như sau: - Đất rất yếu : Su ≤ 12.
- Đất yếu : Su ≤ 25 KPa hoặc N ≤ 4. Đất yếu là một trong những đối tượng nghiên cứu và xử lý rất phức tạp, đòi hỏi công tác khảo sát, điều tra, nghiên cứu, phân tích và tính toán rất công phu. Để xử lý đất yếu đạt hiệu quả cao cũng phải có yếu tố tay nghề thiết kế và bề dày kinh nghiệm xử lý của tư vấn trong việc lựa chọn giải pháp hợp lý. Phân loại: Đất mềm yếu nói chung là loại đất có khả năng chịu tải nhỏ (áp dụng cho đất có cường độ kháng nén quy ước dưới 0,50 daN/ cm2), có tính nén lún lớn, hệ số rỗng lớn (e >1), có môđun biến dạng thấp (Eo < 50 daN/cm2), và có sức kháng cắt nhỏ.
Khi xây dựng công trình trên đất yếu mà thiếu các biện pháp xử lý thích đáng và hợp lý thì sẽ phát sinh biến dạng thậm chí gây hư hỏng công trình. Nghiên cứu xử lý đất yếu có mục đích cuối cùng là làm tăng độ bền của đất, làm giảm tổng độ lún và độ lún lệch, rút ngắn thời gian thi công và giảm chi phí đầu tư xây dựng. Cách phân biệt nền đất yếu ở trong nước cũng như ở nước ngoài đều có các tiêu chuẩn cụ thể để phân loại nền đất yếu. Theo nguyên nhân hình thành: loại đất yếu có nguồn gốc khoáng vật hoặc nguồn gốc hữu cơ.
- Loại có nguồn gốc khoáng vật : thường là sét hoặc á sét trầm tích trong nước ở ven biển, vùng vịnh, đầm hồ, thung lũng. - Loại có nguồn gốc hữu cơ : hình thành từ đầm lầy, nơi nước tích đọng thường xuyên, mực nước ngầm cao, tại đây các loại thực vật phát triển, thối rữa phân huỷ tạo ra các vật lắng hữu cơ lẫn với trầm tích khoáng vật. HVTH: Phan Thanh Tứ – Lớp XD Đường Ôtô & TP K17 Trang:7 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật Chuyên nghành xây dựng Đường ôtô & đường TP Phân biệt theo chỉ tiêu cơ lý (trạng thái tự nhiên): Thông thường phân biệt theo trạng thái tự nhiên và tính chất cơ lý của chúng như hàm lượng nước tự nhiên, tỷ lệ lỗ rỗng, hệ số co ngót, độ bão hoà, góc nội ma sát (chịu cắt nhanh) cường độ chịu cắt. Phân biệt đất yếu loại sét hoặc á sét, đầm lầy hoặc than bùn (phân loại theo độ sệt) Một số chỉ tiêu phân biệt loại đất mềm yếu: Bảng1.1 Chỉ tiêu Hàm lượng nước Độ rỗng tự nhiên Cường độ chịu tự nhiên (%) cắt (KPa) Giá trị ≥ 35 và ≥ 1,0 < 35 chỉ tiêu giới hạn lỏng Chỉ tiêu Hàm Độ Hệ số co Độ bão Góc nội lượng rỗng tự ngót hoà (%) ma sát (o) nước tự nhiên (MPa-1) (chịu cắt nhiên (%) nhanh) Loại đất Đất sét > 40 > 1,2 > 0,50 > 95 <5 Đất á sét > 30 > 0,95 > 0,30 > 95 <5 (Đất bột) 1.
Phân bố của nền đất yếu: Nền đất yếu thường gặp ở khu vực miền duyên hải (bãi bồi ven sông, biển) hoặc ở các thung lũng thuộc vùng núi… có chung đặc tính là lượng nước tự nhiên lớn (≥ 35%) độ lún cao, cường độ chịu cắt thấp (< 35KPa), hệ số rỗng lớn (e≥1,0) và độ thoát nước kém … khi xây dựng công trình trên loại đất này dễ bị lún sụt. Từ các khu vực châu thổ Bắc bộ, Thanh - Nghệ Tĩnh, ven biển Trung bộ, đến đồng bằng Nam Bộ đều có những vùng đất yếu. Trong lĩnh vực nghiên cứu và xử lý nền đường đắp trên đất yếu trên các tuyến đường của Việt Nam, ngành GTVT đã có nhiều cố gắng trong việc ứng dụng công nghệ mới để xử lý hàng trăm km đường bộ đắp trên đất yếu và đã thu được những kết quả bước đầu đầy khích lệ. HVTH: Phan Thanh Tứ – Lớp XD Đường Ôtô & TP K17 Trang:8 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật Chuyên nghành xây dựng Đường ôtô & đường TP 1.
Các loại nền đất yếu thường gặp: - Đất sét mềm: gồm các loại đất sét hoặc á sét tương đối chặt, ở trạng thái bão hòa nước, có cường độ thấp; - Bùn: Các loại đất tạo thành trong môi trường nước, thành phần hạt rất mịn (<200μm) ở trạng thái luôn no nước, hệ số rỗng rất lớn, rất yếu về mặt chịu lực; - Than bùn: Là loại đất yếu có nguồn gốc hữu cơ, được hình thành do kết quả phân hủy các chất hữu cơ có ở các đầm lầy (hàm lượng hữu cơ từ 20 – 80%); - Cát chảy: Gồm các loại cát mịn, kết cấu hạt rời rạc, có thể bị nén chặt hoặc pha loãng đáng kể. Loại đất này khi chịu tải trọng động thì chuyển sang trạng thái chảy gọi là cát chảy. - Đất bazan: Đây cũng là đất yếu với đặc diểm độ rỗng lớn, dung trọng khô bé, khả năng thấm nước cao, dễ bị lún sập. Ảnh hưởng của đất yếu đến công trình xây dựng: Nền đất yếu là nền đất không đủ sức chịu tải, không đủ độ bền và biến dạng nhiều, do vậy không thể làm nền thiên nhiên cho công trình xây dựng.
Khi xây dựng các công trình dân dụng, cầu đường, thường gặp các loại nền đất yếu, tùy thuộc vào tính chất của lớp đất yếu, đặc điểm cấu tạo của công trình mà người ta dùng phương pháp xử lý nền móng cho phù hợp để tăng sức chịu tải của nền đất, giảm độ lún, đảm bảo điều kiện khai thác bình thường cho công trình. Trong thực tế xây dựng, có rất nhiều công trình bị lún, sập hư hỏng khi xây dựng trên nền đất yếu do không có những biện pháp xử lý phù hợp, không đánh giá chính xác được các tính chất cơ lý của nền đất. Do vậy việc đánh giá chính xác và chặt chẽ các tính chất cơ lý của nền đất yếu (chủ yếu bằng các thí nghiệm trong phòng và hiện trường) để làm cơ sở và đề ra các giải pháp xử lý nền móng phù hợp là một vấn đề hết sức khó khăn, nó đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tế để giải quyết, giảm được tối đa các sự cố, hư hỏng công trình khi xây dựng trên nền đất yếu. Phân vùng đất yếu ở khu vực Huyện Nhà Bè – TP.Hồ Chí Minh: Theo kết quả thu thập được từ các hồ sơ địa chất của các công trình đã và đang thi công trên khu vực Huyện Nhà Bè, tạm đưa ra một số phân vùng sau: + Phân vùng 1: Khu vực có chiều sâu lớp đất yếu từ 5m – 10m.
+ Phân vùng 2: Khu vực có chiều sâu lớp đất yếu từ 10m – 20m. + Phân vùng 3: Khu vực có chiều sâu lớp đất yếu từ 20m – 30m HVTH: Phan Thanh Tứ – Lớp XD Đường Ôtô & TP K17 Trang:9 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật Chuyên nghành xây dựng Đường ôtô & đường TP Bảng 1.2 Phân vùng địa chất tại khu vực Huyện Nhà Bè. 1 1 1 2 2 3 2 3 PHAÂN VUØNG 1 3 PHAÂN VUØNG 2 PHAÂN VUØNG 3 1 ÑAÁT ÑAÉP. 2 BUØN SEÙT MAØU ÑEN, TRAÏNG THAÙI DEÛO CHAÛY.
3 ÑAÁT SEÙT MAØU XAÙM VAØNG - NAÂU, TRAÏNG THAÙI DEÛO CAO. Đặc trưng cơ lý của nền đất yếu tại khu vực Huyện Nhà Bè – TP.Hồ Chí Minh: Theo số liệu khảo sát địa chất tại một số công trình tại khu vực Huyện Nhà Bè như: Công trình ”Đường nối từ Kho Dầu B đến ngả ba Nhơn Đức”, ”Đường Nguyễn Hữu Thọ”. thì các lớp đất chính thường gặp là những loại đất bùn sét màu đen, bùn sét lẫn ít cát mịn màu xám vàng, đất sét màu nâu xám. Theo số liệu thu thập được nền đất yếu đặc trưng ở khu vực Huyện Nhà Bè có tính chất cơ lý như sau: * Lớp I: Đất đắp: Cát san lấp, gạch vụn bêtông * Lớp II: Bùn sét màu đen trạng thái chảy.
Mức độ nén lún trung bình, cường độ chịu tải trung bình. * Lớp III: Đất sét màu nâu xám, trạng thái dẻo cao. Mức độ nén lún trung bình, cường độ chịu tải trung bình. HVTH: Phan Thanh Tứ – Lớp XD Đường Ôtô & TP K17 Trang:10 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật Chuyên nghành xây dựng Đường ôtô & đường TP GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH CÁC CHỈ TIÊU NHƯ SAU: LỚP CÁC CHỈ TIÊU CƠ LÝ TÊN ĐƠN VỊ I II III +Thành phần hạt - Hạt sỏi sạn % - Hạt cát % 7.0 + Độ ẩm tự nhiên W % 80.5 + Dung trọng tự nhiên w g/cm3 1.896 + Dung trọng khô d g/cm3 0.467 + Tỷ trọng Gs g/cm3 2.685 + Hệ số rỗng e 2.5 + Giới hạn Atterberg - Giới hạn chảy Wl % 67.9 - Giới hạn dẻo Wp % 35.7 - Chỉ số dẻo Ip % 32.15 + Góc nội ma sát 2o35’ 15o52 + Lực dính kết C Kg/cm2 0.276 + Hệ số nén lún av cm2/Kg P=0.005 + Sức chịu tải Rtc Kg/cm2 0.45 HVTH: Phan Thanh Tứ – Lớp XD Đường Ôtô & TP K17 Trang:11 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật Chuyên nghành xây dựng Đường ôtô & đường TP CHƯƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ ĐẤT YẾU TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG ÔTÔ TẠI HUYỆN NHÀ BÈ VÀ TP.HỒ CHÍ MINH 2.
Giới thiệu sở lý thuyết các biện pháp xử lý đất yếu thường gặp tại TP. Hồ Chí Minh và tại Huyện Nhà Bè, phân tích ứng dụng của từng phương pháp cho mỗi loại đất yếu khác nhau: 2. Các giải pháp không cải thiện nền đất yếu trong quá trình xây dựng: 2. Gia tải từng lớp: Khi cường độ ban đầu của nền đất yếu rất thấp, để đảm bảo cho nền đường ổn định cần áp dụng biện pháp tăng dần cường độ của nó bằng cách đắp đất từng lớp một, chờ cho đất nền cố kết, sức chịu tải tăng lên, có khả năng chịu được tải trọng lớn hơn thì mới đắp lớp đất tiếp theo.
Đắp trực tiếp trên đất yếu chỉ đảm bảo ổn định khi chiều cao đất đắp (bao gồm cả phần đắp dự phòng lún) chiều cao đắp giới hạn Hgh. Do vậy để áp dụng được giải pháp này phải tính dự báo độ lún tổng cộng và phải xác định được Hgh tuỳ thuộc vào sức chống cắt ban đầu và bề dày tầng đất yếu.