PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Vấn đề giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc đang là một trong những vấn đề xã hội được đặt vào vị trí ưu tiên giải quyết trong phát triển xã hội và là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của quốc gia, luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam quan tâm, xác định là một mục tiêu quan trọng phát triển đất nước. Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, nên tỷ lệ nghèo ở khu vực này có giảm đáng kể, người nghèo đã được tiếp cận tốt hơn các nguồn lực kinh tế và dịch vụ xã hội cơ bản. Tuy nhiên, công tác giảm nghèo vẫn còn gặp nhiều khó khăn, mặc dù tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh ở các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn trên 50%, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, tỷ lệ “tái nghèo” còn cao (khoảng 7% - 10% trong tổng số hộ đã thoát nghèo), chênh lệch thu nhập giữa các vùng miền là khá lớn, thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình quân của cả nước (số liệu của Văn phòng quốc gia về giảm nghèo - Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội).
Vĩnh Thạnh là một trong 3 huyện miền núi của tỉnh Bình Định và là một trong 62 huyện nghèo của cả nước, toàn huyện có 9 xã, thị trấn, trong đó có 5 xã đặc biệt khó khăn. Dân số Vĩnh Thạnh có hơn 30 nghìn người, trong đó dân tộc thiểu số có 8.563 người, chiếm 28,9% dân số (Niên giám thống kê huyện Vĩnh Thạnh năm 2017). Đây là huyện có vùng dân tộc và miền núi rộng lớn, là địa bàn miền núi, địa hình núi non hiểm trở, bị chia cắt nhiều bởi sông, suối, diện tích đất phần lớn là đất có rừng, đất sản xuất nông nghiệp ít lại chủ yếu là đất núi, độ dốc cao, không chủ động được nước tưới. Người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề làm nông, sản xuất lúa nước, trồng cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và các loại cây ngắn ngày trên đất nương rẫy, soi nà 2 và chăn nuôi bò, dê., phương thức sản xuất vẫn còn lạc hậu, phần lớn phụ thuộc vào thiên nhiên nên năng suất đạt thấp và bấp bênh.
Từ năm 2004 thực hiện chủ trương của tỉnh về việc xây dựng hồ chứa nước Định Bình – một hồ thủy lợi lớn nhất của tỉnh, thì 2 xã của huyện nằm trong vùng ngập nước của lòng hồ phải di dời dân đến định cư tại các xã, thị trấn trong huyện, trong đó phần lớn là đồng bào dân tộc Bana, diện tích đất sản xuất bị ngập nước khá lớn, do vậy cuộc sống nhân dân rất khó khăn trong điều kiện thiếu đất sản xuất. Tính đến cuối năm 2019, tổng số hộ nghèo của huyện là 4.895 hộ dân, chiếm tỷ lệ 45,48% (theo phương pháp tiếp cận đa chiều), trong đó, hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số là 1.385 hộ, chiếm tỷ lệ 34,24% so với tổng số hộ nghèo, tỷ lệ 65,49% so với tổng số hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn; hộ cận nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số 251/2.165 hộ, chiếm tỷ lệ 11,59%. Do vậy, huyện rất quan tâm đến công tác giảm nghèo nói chung và giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. Trong những năm qua, các hộ đồng bào dân tộc thiểu số được thụ hưởng nhiều chính sách hỗ trợ giảm nghèo của nhà nước như Nghị quyết 30a, Chương trình 135, Chương trình 134, chương trình giao đất, giao rừng cho các hộ trồng, chăm sóc và bảo vệ; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và các công trình giao thông, thủy lợi, Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, Chương trình giải quyết việc làm và các chính sách hỗ trợ về sản xuất.
đã giải quyết được những khó khăn cấp thiết ở vùng dân tộc và miền núi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc Ba Na trên địa bàn huyện có giảm qua từng năm: năm 2016 tỷ lệ hộ nghèo là đồng bào Ba Na 66,61%, đến năm 2020 giảm còn 50,9%. Tuy nhiên, công tác giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn vẫn đang còn nhiều khó khăn, thách thức bởi kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo còn lớn, số hộ tái nghèo hàng năm còn cao. Mặt khác, ý thức vươn lên thoát nghèo của người dân còn nhiều hạn chế, điều kiện 3 tự nhiên khắc nghiệt, đất sản xuất thiếu và cách xa nơi ở, những tập quán sinh sống, làm ăn ấu trĩ lạc hậu khiến cho kết quả thực hiện của chương trình không cao, tỷ lệ thoát nghèo và tái nghèo chênh lệch không đáng kể, năm 2017 tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí đa chiều đồng bào dân tộc Bana tăng lên 77% và đến năm 2020 là 70,49%. Thực trạng trên cho thấy, mặc dù nhận được rất nhiều sự hỗ trợ từ phía Nhà nước cho công tác giảm nghèo, nhưng tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn ở mức cao, khả năng tái nghèo lớn.
Công tác giảm nghèo kém hiệu quả chính là lý do cho việc chọn đề tài: “Giải pháp xóa đói giảm nghèo bền vững - Nghiên cứu trường hợp đồng bào Bana huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định” nhằm: (1) Tìm hiểu tình trạng nghèo và tái nghèo của bà con Bana tại huyện Vĩnh Thạnh, (2) Các yếu tố dẫn đến tình trạng tái nghèo của đồng bào Bana huyện Vĩnh Thạnh và (3) đề xuất một số giải pháp giảm nghèo đặc trưng địa phương cho đồng bào Bana, góp phần thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững tại huyện Vĩnh Thạnh. Tổng quan nghiên cứu Vấn đề nghèo đói là một trong những vấn đề mà toàn thế giới quan tâm. Đã có rất nhiều tác giả, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về vấn đề này. Trong phần tổng quan này, tôi tập trung vào những vấn đề: khái niệm và lý thuyết tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, những kết quả đã đạt được trong đó đặc biệt là những giải pháp xoá đói giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Về khái niệm, lý thuyết tiếp cận Trong nghiên cứu “Giảm nghèo bền vững cho người dân tộc thiểu số ở huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam”, tác giả Nguyễn Hữu Lợi (2013) khái niệm giảm nghèo hay xóa đói giảm nghèo chính là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Ở khía cạnh khác, giảm 4 nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều hơn, hướng đến sự đầy đủ hơn các điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người. Tác giả nêu lên khái niệm Chất lượng giảm nghèo để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác được rút ngắn về mặt tốc độ, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi lại vào tình trạng nghèo đói, hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ảnh tính bền vững của quá trình giảm nghèo.
Quá trình giảm nghèo bền vững được đánh giá thông qua các tiêu chí cơ bản sau: Giảm nghèo bền vững thông qua cải thiện về thu nhập; Giảm thiểu nguy cơ bị tổn thương và rủi ro đối với các đối tượng nghèo; Tăng cường tiếng nói và quyền tự chủ cho người nghèo. Trong các nghiên cứu “Giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Hà Giang” của Phạm Ngọc Dũng, ĐH Kinh tế-ĐHQG Hà Nội, 2015 và “Giảm nghèo bền vững ở huyện Ứng Hoà, Thành phố Hà Nội” của Nguyễn Thị Hồng Sâm, ĐH Kinh tế-ĐH Quốc gia Hà Nội, 2014 đã đưa ra những lý luận cơ bản về vấn đề giảm nghèo bền vững, bao gồm những khái niệm về nghèo, nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo đơn chiều, nghèo đa chiều. Trong nghiên cứu về giảm nghèo bền vững ở Hà Giang thì tác giả đã hiểu nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có thể thoả mãn một phần nhu cầu cơ bản tối thiểu của cuộc sống và mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên nhiều phương diện. Để chỉ mức độ nghèo, còn dùng khái niệm nghèo kinh niên và cận nghèo; nghèo kinh niên là tình trạng nghèo được kéo dài trong nhiều năm liền, thường là ba năm liên tiếp; còn khái niệm cận nghèo được hiểu là tình trạng một hộ hay người không nghèo nhưng có mức thu nhập bình quân đầu người cận với chuẩn nghèo.
Ngoài ra bài viết còn đưa ra những khái niệm về giảm nghèo, tái nghèo, thoát nghèo cũng như vai trò của giảm nghèo bền vững. Tương tự, trong nghiên cứu “Giảm nghèo bền vững ở 5 huyện Ứng Hoà, Thành phố Hà Nội” của Nguyễn Thị Hồng Sâm thì ngoài những khái niệm liên quan đến vấn đề nghèo đói như nghèo tương đối, nghèo tuyệt đối… thì nghiên cứu còn nêu lên quan niệm về giảm nghèo bền vững. Giảm nghèo bền vững được hiểu là các chính sách cần khuyến khích người nghèo có ý thức, động lực làm ăn để thoát nghèo. Bài viết cũng đã nêu lên chủ thể quan trọng nhất của giảm nghèo bền vững đó chính là bản thân của người nghèo; còn chính quyền các cấp là chủ thể hỗ trợ đắc lực cho quá trình giảm nghèo bền vững.
Những nội dung của giảm nghèo bền vững như là: thực hiện chương trình khuyến nông, khuyến công; tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo; đào tạo nghề và tạo việc làm cho người nghèo; có các chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo về giáo dục, y tế. Còn trong nghiên cứu “Quản lý chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn tại tỉnh Thanh Hoá” của Phạm Trung Kiên, ĐH Kinh tế-ĐHQG Hà Nội, 2015. Ngoài nêu lên những khái niệm cơ bản liên quan đến nghèo đói, nghiên cứu cũng đã chỉ ra những khái niệm, những vấn đề cơ bản liên quan đến chương trình MTQG về giảm nghèo bền vững.