Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1.Khái niệm dân tộc và dân tộc thiểu số a. Dân tộc Căn cứ vào những nghiên cứu của các nhà khoa học về quá trình hình thành của các dân tộc trên thế giới và cũng như Việt Nam, khái niệm về dân tộc có thể được hiểu như sau: Theo nghĩa rộng dân tộc hay quốc gia dân tộc được hiểu đó là cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi Nhà nước, thiết lập trong một lãnh thổ nhất định, ban đầu do sự tập hợp của nhiều bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnic) của bộ phận tộc người. Kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội trong khu vực và bản thân.
Theo nghĩa hẹp dân tộc đồng nghĩa với tộc người, dân tộc đó là một cộng đồng tộc người (đa số hoặc thiểu số) được hình thành trong lịch sử, ổn định, có ngôn ngữ riêng của tộc người, đồng thời cư trú trên một lãnh thổ nhất định, các thành viên của tộc người đó cùng chung một vận mệnh lịch sử, cùng chung lợi ích về chính trị, kinh tế và cuối cùng là có chung một nền văn hoá mang bản sắc tộc người. Như vậy, theo nghĩa hẹp thì khái niệm dân tộc nhằm chỉ bất cứ dân tộc (tộc người) nào, từ trình độ phát triển thấp đến cao, từ xã hội nguyên thủy đến sự hình thành Nhà nước; sẽ là một tộc người nếu tộc đó hội tụ đủ bốn đặc trưng cơ bản: Chung ngôn ngữ, lãnh thổ, lợi ích, có chung một nền văn hoá, trong đó quan trọng nhất là ý thức tự giác tộc người. Dân tộc thiểu số Thuật ngữ DTTS được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật, trong nghiên cứu, học tập và thực tiễn ở Việt Nam. Khái niệm về DTTS trong Khoản 2, Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc có ghi: "Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".
Trong cuốn Quản lí Nhà nước về dân tộc và tôn giáo của Học viện hành chính Quốc Gia xác định: “Dân tộc thiểu số được hiểu là dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc kinh”. Như vậy, DTTS bản chất vẫn là một dân tộc (tộc người) do đó nó vẫn phải thỏa mãn bốn đặc điểm cơ bản: Chung ngôn ngữ, chung lãnh thổ, chung lợi ích, chung văn hóa; tuy nhiên xét trên khía cạnh số dân thì DTTS có có số dân ít hơn so với dân tộc đa số, Dân tộc đa số ở Việt Nam (dân tộc kinh). Khái niệm về lao động và việc làm a. Lao động Lao động được hiểu theo khía cạnh kinh tế học chính là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra, một dịch vụ hay một loại hàng hóa.
Trên thị trường lao động, người cung hàng hóa “lao động” là người lao động, người cầu hàng hóa này là những nhà sản xuất, nhà cung ứng. Lao động được trao đổi trên thị trường như các hàng hóa dịch vụ khác vì bản thân lao động là một loại hàng hóa. Thị trường tại đó cung và cầu lao động trao đổi được gọi là thị trường lao động. Trong đó tiền công thực tế mà người lao động nhận được từ người sản xuất được gọi là giá cả của lao động.
Khái niệm về lao động hiện nay có thể được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau nhưng nội hàm của nó vẫn thể hiên được lao động là một hoạt động đặc thù của con người, là nhân tố để phân biệt con người với con vật, xã hội loài người với xã hội loài vật. Hoạt động lao động của con người được phân biệt với hoạt động của thế giới loài vật trên khía cạnh hoạt động của con người là Luan van 7 có mục đích, có ý thức nhằm tác động vào thế giới tự nhiên, cải biến nó thành sản phẩm cụ thể, phục vụ cho đời sống của con người. Lao động được C.Mác xác định như sau: Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”.Ăngghen: “Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải.
Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài người”. Như vậy, từ những lý luận cho thấy lao động là quá trình con người hoạt động thông qua sử dụng sức lực cơ bắp, trí óc vào quá trình sản xuất nhằm tác động vào tư liệu sản xuất để tạo ra các sản phẩm có ích phục các nhu cầu con người. Theo cách khác, trong bất cứ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội. Việc làm Khái niệm về việc làm được nhiều nhà khoa học cũng như các tài liệu khoa học đưa ra.
Trong từ điển, việc làm là “Công việc mà người lao động tiến hành nhằm có thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật” (từ điển Kinh tế khoa học xã hội, Paris, 1996). Tiến sĩ Sônhin và PTS.Rin, hai tác giả người Liên Xô: “Việc làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong khu vực xã hội hoá của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh tế phụ của các nông trang viên”. Khái niệm của hai nhà khoa học Liên Xô xác định cụ thể về các phạm vi thực hiện việc làm hơn so với khái niệm được đưa ra trong cuốn từ điển “Kinh tế khoa học xã hôi”. Luan van 8 Trái với định nghĩa về việc làm khá chi tiết của hai tác giả Liên Xô, Ghi - Hân – Tơ, Viện phát triển Hải ngoại Luân Đôn đứa ra khái niệm việc làm mang tính tổng quát như sau:“Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ cách kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội, các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế”.
Giăng-Mu-Li, phó cố vấn kinh tế của Văn phòng lao động quốc tế định nghĩa việc làm khá tương đồng với định nghĩa trong từ điển “Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất”. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng định nghĩa về việc làm với các đặc tính cơ bản là hoạt động phải trả công bằng hiện vật hoặc trả bằng tiền. Còn ở Việt Nam, khái niệm về lao động được đưa ra trong luật như sau: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm” (trích Điều 13 Bộ luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam): Khái niệm việc làm theo Bộ luật lao động cho thấy việc làm là - Hoạt động lao động của con người. - Hoạt động nhằm mục đích tạo ra thu nhập.
- Hoạt động lao động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Trên cơ sở các định nghĩa nêu trên về việc làm có thể thấy đặc điểm chung của việc làm là một dạng hoạt động có sự tác động qua lại giữa con người với những điều kiện vật chất kỹ thuật và môi trường tự nhiên nhằm tạo ra giá trị vật chất và tinh thần mới cho người lao động và cho xã hội. Như vậy việc là là hoạt động phải thỏa mãn các điều kiện cụ thể gồm: Thứ nhất đó phải là hoạt động có ích; thứ hai, không bị ngăn cấm bởi pháp luật hay nói cách khác việc làm phải hợp pháp; thứ ba việc làm phải tạo ra thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thu nhập cho người thân, gia đình hoặc cộng đồng. Một cách khải Luan van 9 quát nhất, việc làm là tổng thể những hoạt động kinh tế liên quan đến thu nhập và đời sống dân cư.
Nói tóm lại, một hoạt động với các đặc điểm sau được xác định là việc làm: hoạt động tạo ra lợi nhuận cho bản thân hoặc thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho công việc đó; các công việc được trả công dưới dạng hiện vật hoặc tiền công. Khái niệm nguồn lao động và lực lượng lao dộng a. Nguồn lao động Khái niệm về nguồn lao động được định nghĩa như sau: “Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân” (trích trong cuốn Kinh tế phát triển của trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2005). Theo khái niệm trên thì nguồn lao động ở các nước có thể được tính khác nhau hoặc cùng một một nước những có các xác định trong các thời kỳ khác nhau là khác nhau, phụ thuộc vào quy định về độ tuổi lao động của từng nước và từng thời thời.
Việc quy định về độ tuổi lao động có sự khác biệt giữa các nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và các giai đoạn phát triển. Lực lượng lao động Lực lượng lao động (LLLĐ) chính là nguồn cung lao động của mỗi quốc gia, nhưng quan niệm về lực lượng lao động trên thế giới tương đối đa dạng. Trong từ điển về thuật ngữ thuộc lĩnh vực lao động của Liên Xô (cũ) (Matxcơva 1977, tiếng Nga), khái niệm về LLLĐ là định lượng của nguồn lao động. Từ điển thuật ngữ Pháp (1977 - 1985) cho rằng LLLĐ bao gồm cả đại lượng số lượng và đại lượng chất lượng của người lao động, nó được quy đổi theo các tiêu chuẩn trung bình về khả năng lao động có thể sử dụng của người lao động.
Quan niệm về LLLĐ có đăng ký mà nhà kinh tế học David Begg Luan van 10 đưa ra thì nó là tổng của số người có việc làm với số người thất nghiệp có đăng ký.