phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 03 chƣơng: Chƣơng 1: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH MTV Khách sạn du lịch Công đoàn Hạ Long về KAZEN VÀ 5S. Chƣơng 2: Thực trạng của công ty TNHH MTV khách sạn du lịch Công đoàn Hạ Long ứng dụng KAIZEN và 5S. Chƣơng 3: Giải pháp áp dụng KAIZEN và 5S vào Công ty TNHH MTV khách sạn du lịch công đoàn Hạ Long. Luận văn đề tài “Giải pháp về ứng dụng KAIZEN và 5S tại Công ty TNHH MTV Khách sạn Du lịch Công đoàn Hạ Long” đã hoàn thành với 122 trang, mục tiêu đề ra các giải pháp để ứng dụng KAIZEN và 5S vào lĩnh vực kinh doanh khách sạn, dịch vụ đƣợc trình bày ở các phần tiếp theo.
HV: Trần Ngọc Hưng 5 Lớp: MB01 – Khóa 1 Luận văn cao học QTKD Trường ĐHDL Hải Phòng CHƢƠNG 1: NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH MTV KHÁCH SẠN DU LỊCH CÔNG ĐOÀN HẠ LONG VỀ KAZEN VÀ 5S 1. Một số khái niệm về nâng cao năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và các cấp độ cạnh tranh 1. Cạnh tranh “Cạnh tranh không phải chi cho trƣớc mắt mà cả lâu dài” Thuật ngữ “Cạnh tranh” đƣợc sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực nhƣ kinh tế, thƣơng mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao.
Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hƣớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, ngƣời tiêu dùng, thƣơng nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tƣơng đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thƣơng mại khác để thu đƣợc nhiều lợi ích nhất cho mình.
Ở góc độ thƣơng mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm đƣợc sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Hệ thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự mình đƣa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phƣơng thức sản xuất, và tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ. Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vì nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Trong sản xuất hàng hoá, sự tách biệt tƣơng đối giữa những ngƣời sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành đƣợc những điều kiện thuận lợi hơn nhƣ gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trƣờng tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật HV: Trần Ngọc Hưng 6 Lớp: MB01 – Khóa 1 Luận văn cao học QTKD Trường ĐHDL Hải Phòng phát triển.
nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết để thu đƣợc nhiều lãi. Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn có cạnh tranh [8, tr 15]. Mục đích của cạnh tranh là: + Tạo cho khách hành ấn tƣợng về chất lƣợng dịch vụ, sản phẩm của bạn so với các đối thủ cạnh tranh hoặc loại bỏ những tác động của sản phẩm thay thế. + Quy trình làm việc là hình mẫu cho mọi ngƣời để đánh giá.
+ Tạo hình ảnh và thƣơng hiệu. Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phi giá cả (khuyến mãi, quảng cáo), hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dƣới các điều kiện về thị trƣờng tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng đƣợc đòi hỏi của thị trƣờng, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao đƣợc thu nhập thực tế. Một thuật ngữ có liên quan đến cạnh tranh là lợi thế cạnh tranh – là vị thế tƣơng đối của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng cho phép doanh nghiệp vƣợt qua đƣợc các lực lƣợng cạnh tranh để thu hút đƣợc khách hàng và khả năng duy trì và phát triển lợi thế đó. Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ.
Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia). Ngoài ra còn xuất hiện thuật ngữ lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trƣờng một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp đƣợc. Từ những phân tích trên có thể khái quát sự cạnh tranh giữa các khách sạn: Đó là sự cạnh tranh giữa các khách sạn cùng cung cấp một loại sản phẩm, nhằm vào một đoạn thị trƣờng mục tiêu và có quy mô, vị trí, thứ hạng, điều kiện kinh doanh nhƣ nhau. Các khách sạn để có thể cạnh tranh đứng vững trên thị trƣờng thì cần phải có các lợi thế tƣơng đối và tuyệt đối so với các đối thủ cạnh tranh của mình.
Lợi thế HV: Trần Ngọc Hưng 7 Lớp: MB01 – Khóa 1 Luận văn cao học QTKD Trường ĐHDL Hải Phòng cạnh tranh của một khách sạn có thể là vị trí, diện tích mặt bằng, quy mô, thứ hạng của khách sạn, các mối quan hệ của khách sạn với các nhà cung cấp và khách hàng, sản phẩm độc đáo… Lợi thế cạnh tranh chính là điều kiện để cho một khách sạn có thể đứng vững trên thị trƣờng, tồn tại và phát triển. Để tăng khả năng cạnh tranh, bắt buộc các khách sạn phải phân tích môi trƣờng bên trong của doanh nghiệp mình để thấy đƣợc những lợi thế và những điểm hạn chế của mình so với đối thủ cạnh tranh, từ đó có các biện pháp thích hợp nâng cao khả năng cạnh tranh của khách sạn. Nhƣng muốn phân tích môi trƣờng bên trong khách sạn một cách đầy đủ, chính xác nhất, đƣa ra các phƣơng pháp giải quyết hữu hiệu nhất phải dựa trên cơ sở tìm hiểu, xem xét môi trƣờng bên ngoài, thấy đƣợc cơ hội, thách thức đối với khách sạn của mình. Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn ngƣời tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu đƣợc lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng.
Năng lực canh tranh của doanh nghiệp đƣợc tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không chỉ đƣợc tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ƣu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đƣa ra thị trƣờng. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh… Năng lực cạnh tranh còn có thể đƣợc hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt đƣợc một số kết quả mong muốn dƣới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lƣợng các sản phẩm cũng nhƣ năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trƣờng hiện tại và làm nảy sinh thị trƣờng mới. HV: Trần Ngọc Hưng 8 Lớp: MB01 – Khóa 1 Luận văn cao học QTKD Trường ĐHDL Hải Phòng Hiện nay, một doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc trên thị trƣờng thì phải có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị trƣờng.
Đó chính là năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp chính là việc có đƣợc các lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ cạnh tranh để duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trƣờng cạnh tranh, đảm bảo một mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Các cấp độ cạnh tranh Năng lực cạnh tranh có thể đƣợc phân biệt dƣới ba cấp độ: cấp độ quốc gia, cấp độ doanh nghiệp và cấp độ sản phẩm cụ thể. Tuy nhiên khi phân tích các cấp độ nào thì phải đặt nó trong mối liên quan tƣơng đối mật thiết và ảnh hƣởng với nhau giữa các cấp độ.
a) Năng lực cạnh tranh quốc gia Hình 1.1: Mô hình cạnh tranh quốc gia (Nguồn:http://chienluocuocsong.com) Theo cách tiếp cận của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt đƣợc và duy trì mức tăng trƣởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tƣơng đối và đặc trƣng kinh HV: Trần Ngọc Hưng 9 Lớp: MB01 – Khóa 1 Luận văn cao học QTKD Trường ĐHDL Hải Phòng tế khác [8, tr 15]. Một cách hiểu khác thì năng lực cạnh tranh quốc gia bao gồm nhiều yếu tố tác động đến khả năng của các doanh nghiệp trong quốc gia có lợi thế cạnh tranh trên thị trƣờng thế giới và đó là cách nâng cao mức sống của ngƣời dân và thu nhập thực tế cho ngƣời dân quốc gia đó [8, tr 15]. Theo cách hiểu này thì năng lực cạnh tranh quốc gia là một khái niệm rộng đƣợc cấu thành bởi nhiều yếu tố. Năng lực cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣng chủ yếu là các nhóm nhân tố trụ cột nhƣ là thể chế (môi trƣờng kinh doanh), hạ tầng, nền tảng tri thức và giáo dục cơ bản, nguồn lao động (giáo dục và đào tạo bậc cao), hiệu quả thị trƣờng, sẵn sàng về công nghệ, trình độ kinh doanh và đổi mới.
Nhƣ vậy, năng lực cạnh tranh quốc gia có thể hiểu rằng là việc xây dựng môi trƣờng kinh doanh nói chung, đảm bảo phân bổ hiệu quả nguồn lực nhằm duy trì tăng trƣởng kinh tế cao và phát triển bền vững.