CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG MARKETING 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRUYỀN THÔNG MARKETING 1.1 Truyền thông Marketing Marketing coi truyền thông là một trong những công cụ rất quan trọng để đảm bảo các nổ lực marketing bỏ ra chắc chắn được đền đáp. Truyền thông marketing là một trong bốn nhóm công cụ marketing chủ yếu được doanh nghiệp sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu, làm thay đổi niềm tin và thái độ của khách hàng với sản phẩm của doanh nghiệp theo chiều hướng tích cực hơn. Theo Philip Kotler, truyền thông marketing là các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về sản phẩm và bản thân doanh nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào doanh nghiệp cũng như sản phẩm và mua sản phẩm của doanh nghiệp.
Truyền thông marketing là tất cả các hoạt động được doanh nghiệp thực hiện nhằm duy trì cho sản phẩm một chỗ đứng nào đó trong tâm trí của khách hàng mục tiêu và thúc đẩy hành vi mua của họ.Truyền thông marketing bao gồm các hoạt động cụ thể như quảng cáo, bán hàng cá nhân, PR hay xúc tiến bán. Điều đó có nghĩa là, truyền thông marketing không phải là một hoạt động đơn giản mà nó là tập hợp của nhiều hoạt động khác nhau cùng hướng tới mục tiêu thông tin, nhắc nhở và thuyết phục khách hàng mua hàng. Marketing trong du lịch dựa trên nguyên tắc các sản phẩm và dịch vụ du lịch không phải được tạo ra vì mục tiêu lợi nhuận mà phải đem đến những giá trị về mặt xã hội và môi trường gắn với lợi ích chung của cộng đồng Điểm cốt lõi của marketing du lịch là quảng bá “những trải nghiệm” đến với thị trường. Được tạo ra từ các yếu tố cấu thành như địa điểm, cơ sở 7 vật chất hạ tầng, dịch vụ, trải nghiệm dulịch đã vượt xa khái niệm chỉ đơn giản là một hoạt động.
Nó giúp khách hàng cam kết ở một mức độ cao hơn và giúp du khách có cái nhìn cụ thể hơn về điểm đến. Do đó điều quan trọng là phải quảng bá những trải nghiệm cụ thể có khả năng đáp ứng nhu cầu của từng thị trường trọng điểm. Truyền thông Marketing tích hợp Nhằm tránh sự mâu thuẫn của các thông điệp từ các công cụ truyền thông làm ảnh hưởng đến hình ảnh doanh nghiệp và định vị nhãn hiệu sản phẩm, các nhà Marketing hiện đại ngày nay càng quan tâm và tiếp nhận khái niệm truyền thông Marketing tích hợp (IMC – Intergrated Marketing Communication). Khái niệm Truyền thông Marketing tích hợp (IMC) được sử dụng nhiều nhất do Hiệp hội các hãng quảng cáo Mỹ (AAA) thông qua năm 1991, theo đó IMC là “Một khái niệm về hoạch định truyền thông marketing nhằm nhận biết giá trị gia tăng của một kế hoạch đánh giá vai trò chiến lược của các phương thức truyền thông khác nhau: quảng cáo, marketing trực tiếp, khuyến mãi bán và quan hệ công chúng, và kết hợp các công cụ để đem lại tác động truyền thông rõ ràng, nhất quán và mạnh mẽ” [15, tr.
Tuy nhiên, khái niệm IMC của AAA mới chỉ nhìn nhận các công cụ truyền thông theo một góc nhìn hẹp: chỉ cần một cách thức gắn kết các yếu tố truyền thông cổ động để làm sao cuối cùng có được một phát ngôn đồng nhất. Đây là cách nhìn quản trị chiến lược từ trong ra ngoài Sau đó Ducan và Moriarty cũng đã chia sẽ quan điểm của mình “IMC là một quá trình quản lý quan hệ khách hàng, từ đó tạo ra giá trị thương hiệu. Đặc biệt hơn, đây là một quá trình phối hợp đa chức năng để tạo ra và nuôi dưỡng các mối quan hệ có lợi với khách hàng và các cổ đông, thông qua chiến lược kiểm soát và gây ảnh hưởng đến tất cả các thông điệp gửi cho các 8 nhóm này và khuyến khích việc thu thập dữ liệu cũng như các cuộc đối thoại với họ” [15]. Mô hình IMC của Duncan nhấn mạnh việc lấy khách hàng làm trung tâm hoạt động, cụ thể như sau: - Quá trình phối hợp đa chức năng là tất cả các bộ phận của đơn vị và các hãng bên ngoài phải làm việc cùng nhau trong các giai đoạn hoạch định và giám sát quan hệ thương hiệu.
- Ý tưởng về quan hệ khách hàng sinh lợi là rất quan trọng vì không phải tất cả các quan hệ đề có giá trị như nhau đối với công ty. - Chiến lược kiểm tra hay gây ảnh hưởng đến tất cả các thông điệp cho thấy đầy đủ các khía cạnh của marketing mix. - Khuyến khích đối thoại giúp xác định khách hàng muốn có cơ hội để tương tác cùng công ty. Tóm lại, IMC là một khái niệm công nhận giá trị gia tăng nhờ vào một chương trình kết hợp các công cụ chiêu thị khác nhau với mục đích cung cấp thông tin rõ ràng, nhất quán và đạt hiệu quả cao nhất.
Với khái niệm IMC này thì công ty phải tích hợp một cách cẩn trọng nhiều kênh truyền thông nhằm chuyển tải các thông điệp rõ ràng, thống nhất về tổ chức và các sản phẩm của mình. Sự khác nhau giữa truyền thông truyền thống và IMC Bảng 1.1 Phân biệt truyền thông truyền thống với IMC Truyền thông Marketing Truyền thông Marketing truyền thống tích hợp (IMC) Tập trung tạo ra giao dịch Tạo dựng và nuôi dưỡng các mối quan hệ Tập trung vào khách hàng Truyền thông tới các bên liên quan Các thông điệp về cùng một thương Các thông điệp về cùng một hiệu là độc lập với nhau thương hiệu có tính nhất quán chiến lược Sử dụng phương tiện truyền thông Sử dụng truyền thông thương tác – đại chúng –độc thoại đối thoại với khách hàng Tập trung quảng bá sản phẩm Tập trung Marketing cho sứ mệnh của doanh nghiệp Lập kế hoạch theo kiểu điều chỉnh kế Hoạch định chiến lược dựa trên hoạch của năm trước tính toán kỹ từ đầu vào Việc lập kế hoạch và giám sát thuộc Việc lập kế hoạch và giám sát thuộ về phòng chức năng trách nhiệm liên phòng Tạo ra chuyên gia truyền thông Tạo ra năng lực cốt lõi Chú trọng Marketing đại chúng và Chú trọng xây dựng và quản trị cơ kiếm khách hàng mới sở dữ liệu để giữ khách hàng Sử dụng một số lượng đại diện ổn Sử dụng một đại diện về quản trị định về quản trị truyền thông truyền thông 1. Quá trình truyền thông marketing a. Mô hình truyền thông Để thành công trong truyền thông cần phải hiểu rõ quá trình truyền 10 thông, các yếu tố của quá trình truyền thông, hiểu ý nghĩa của những hình ảnh, từ ngữ và biết chúng có ảnh hưởng như thế nào đối với quá trình giải thích và hiểu thông điệp của người nhận.1) Mã hóa Thông điệp Giải mã Người Người thông thông nhận gửi Phương tiện điệp điệp truyền thông Nhiễu Thông tin Phản ứng Phản hồi đáp lại Hình 1.
Quá trình truyền thông - Hai yếu tố chính: Người gửi – Nguời nhận - Hai công cụ truyền thông: Thông điệp – Phương tiện truyền thông - Bốn chức năng truyền thông: Mã hóa – Giải mã – Phản ứng đáp lại – Thông tin phản hồi - Yếu tố khác: Nhiễu Giải thích các yếu tố trong mô hình: - Người gửi: là chủ thể của quá trình truyền thông marketing. Đó là doanh nghiệp, tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông marketing hướng tới khách hàng. - Mã hoá thông điệp: Là việc dùng các ngôn ngữ truyền thông để chuyển các ý tưởng truyền thông thành các hình thức có tính biểu tượng sao cho thuận tiện cho người nhận tin lĩnh hội được ý tưởng đó. 11 - Thông điệp : Tập hợp các biểu tượng mà bên gửi truyền đi - Phương tiện truyền thông: Thông điệp có thể truyền đi đến người nhận bằng các phương tiện như: truyền hình, truyền thanh, báo chí, Internet… - Giải mã: Là quá trình chuyển thông điệp được mã hóa của người gửi thành ý nghĩa.
Để đảm bảo thông điệp có hiệu quả, quá trình mã hóa của người gửi phải tương thích với quá trình giải mã của người nhận. Do vậy, thông điệp về cơ bản phải phải là những tín hiệu quen thuộc đối với người nhận. - Người nhận tin: Là khách hàng mục tiêu mà chủ thể truyền tin (doanh nghiệp, tổ chức) đang muốn thuyết phục. - Phản ứng đáp lại: Là những phản ứng của người nhận tin sau khi lĩnh hội thông điệp.
Người truyền tin cần nắm bắt được phản ứng của người nhận tin để điều chỉnh chiến lược, chiến thuật truyền thông. - Thông tin phản hồi: Thông điệp từ người nhận tác động trở lại người gửi tin. Qua thông tin phản hồi, người gửi tin biết được hiệu quả của chương trình truyền thông. - Nhiễu: là các tác động đến thông điệp làm cho nó được hiểu sai lệch so với trạng thái ban đầu.
Nhiễu có thể là do môi trường vật lý gây ra (tiếng ồn), có thể là do người gửi tin không hiểu được quan điểm, nền tảng văn hoá của người nhận tin. Mô hình này nhấn mạnh những yếu tố then chốt trong quá trình truyền thông marketing. Chủ thể gửi thông tin cần xác định rõ người nhận thông điệp (công chúng mục tiêu) nào? Đặc điểm của công chúng mục tiêu? Mong muốn họ phản ứng lại như thế nào? Công chúng mục tiêu có giải mã thông điệp như mong muốn của người truyền tin không? Làm thế nào để công chúng mục tiêu quan tâm chú ý và tiếp nhận thông điệp? Làm thế nào để nhận được thông tin phản hồi từ công chúng mục tiêu?. 12 Tìm hiểu mô hình này giúp đưa ra những định hướng đúng đắn trong quá trình truyền tin.
Đó là xác định rõ đối tượng nhận tin, xác định các phản ứng của người nhận tin, xác định thông điệp gửi đi, lựa chọn kênh truyền tin, thu nhận thông tin phản hồi. Đây chính là các quyết định trong truyền thông marketing. Bốn quy luật chi phối việc tiếp nhận thông tin Trong môi trường có vô số các thông điệp khác nhau tác động đến giác quan của công chúng, làm sao để đưa thông điệp đến họ? Công chúng mục tiêu có thể không nhận được thông điệp gửi đến vì một trong bốn lý do sau. Thứ nhất, đó là quy luật chú ý có chọn lọc, nghĩa là công chúng chỉ chú ý đến những thông điệp nào gây ấn tượng nhất.
Thứ hai, đó là quy luật bóp méo có chọn lọc, nghĩa là công chúng chỉ muốn nghe những điều mà họ kỳ vọng, phù hợp với niềm tin của họ. Do vậy, họ thường thêm thắt vào thông điệp những điều không có (phóng đại), và không nhận thấy những điều thực có (lược bớt). Nhiệm vụ của người truyền thông là đảm bảo thông điệp đơn giản, rõ ràng, lý thú và lặp lại nhiều lần để công chúng nắm bắt được những điểm chính.