CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp (CSR) 1. Các khái niệm về CSR Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) thực ra không còn là một khái niệm mới đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết các hoạt động CSR của doanh nghiệp hiện nay tập trung vào hoạt động quyên góp từ thiện, chia sẻ cộng đồng hoặc công tác xã hội tự nguyện, những hoạt động này chỉ đang trên phương diện về xã hội, mà CSR cần tập trung trên cả 3 phương diện kinh tế, môi trường và xã hội để phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững.
Trên thế giới, khái niệm về CSR lần đầu tiên được nhắc đến trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của Doanh nhân (Social Responsibilities of the Businessman) của tác giả Howard Rothmann Bowen vào năm 1953 và đây là cuộc thảo luận toàn diện đầu tiên về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội. Theo ông, trách nhiệm xã hội của doanh nhân đề cập đến nghĩa vụ của các doanh nhân trong việc theo đuổi các chính sách, đưa ra các quyết định hoặc tuân theo các đường lối hành động mà đạt được mong muốn về các mục tiêu và giá trị của xã hội. [2] Từ đó, định nghĩa CRS cũng dần được các tổ chức trên thế giới nhìn nhận với với những góc độ và quan điểm riêng, phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mình như: - Năm 2000, Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới về Phát triển Bền vững (World Business Council for Sustainable Development – WBCSD) định nghĩa Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết liên tục của doanh nghiệp để hành xử có đạo đức và đóng góp vào sự phát triển kinh tế đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ cũng như cộng đồng địa phương và xã hội nói chung.[3] - Năm 2006, Nghị viện Châu Âu (European Parliament - EP) định nghĩa “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thể hiện việc doanh nghiệp chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý tác động đến xã hội và môi trường của mình, trở nên công khai hơn không chỉ với nhân viên và công đoàn của họ mà còn với các 'bên liên quan' rộng lớn hơn bao gồm nhà đầu tư, người tiêu dùng, cộng đồng địa phương, môi trường và các nhóm lợi ích khác.” [4] - Trong ISO 26000:2010, tiêu chuẩn hướng dẫn về trách nhiệm xã hội (ISO 26000:2010 Guidance on social responsibility), định nghĩa “Trách nhiệm xã hội là trách nhiệm của một tổ chức đối với các tác động của các quyết định và hoạt động của tổ chức đó đối với xã hội và môi trường, thông qua hành vi minh bạch và có đạo đức, đóng góp vào sự phát triển bền vững, bao gồm sức khỏe và phúc lợi của xã hội; Có tính THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 5 đến kỳ vọng của các bên liên quan; Tuân thủ luật pháp hiện hành và phù hợp với các chuẩn mực hành vi quốc tế; Được tích hợp trong toàn bộ tổ chức và được thực hành trong các mối quan hệ của nó.” [5] - Năm 2011, Ủy ban Châu Âu (European Commission - EC) định nghĩa CSR là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với tác động của họ đối với xã hội.
” [6] Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR. Tùy thuộc vào từng góc độ, quan điểm, chức năng, điều kiện cũng như trình độ phát triển mà mỗi người nghiên cứu, tổ chức, chính phủ có một nhìn nhận khác về nó. Nhưng về cơ bản CSR là cam kết của doanh nghiệp rằng sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp luôn đi cùng với việc đảm bảo lợi ích chung và phát triển của toàn xã hội, đồng thời đề cập đến trách nhiệm đối với các vấn đề môi trường. Một số bộ tiêu chuẩn về CSR hiện nay: Trên thế giới đã có nhiều bộ tiêu chuẩn nhằm đánh giá CSR, cụ thể như: - ISO 45001:2018 – “Hệ thống quản lý An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp, các yêu cầu hướng dẫn áp dụng” là tiêu chuẩn ISO của tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ra đời với mục đích xây dựng hệ thống quản lý sức khỏe và nghề nghiệp (OH&S – Occupational Health & Safety) được công nhận và áp dụng trên phạm vi quốc tế [7].
Tiêu chuẩn ra được ra đời năm 2018 hướng tới mục tiêu quan trọng trong việc việc ngăn ngừa thương tích và tổn hại sức khỏe cho người lao động. ISO 45001:2018 chỉ tập trung vào tiêu chí đảm bảo an toàn lao động, điều này giúp các doanh nghiệp tập trung từng bước cải thiện để đáp ứng toàn bộ các yêu cầu về trách nhiệm xã hội bằng cách thực hiện kết hợp với các tiêu chuẩn khác. - SMETA (Sedex Members Ethical Trade Audit) là một phương pháp đánh giá và báo cáo về thực hành đạo đức và trách nhiệm xã hội được công nhận và sử dụng rộng rãi do Sedex là một tổ chức phi lợi nhuận ban hành. Tổ chức này có 65.000 thành viên tại 180 quốc gia [8].
Bộ tiêu chuẩn được thiết kế để đánh giá tất cả các khía cạnh của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp gồm 4 trụ cột chính: tiêu chuẩn lao động, sức khỏe và an toàn, môi trường, đạo đức kinh doanh. Hai mục tiêu lớn nhất của SMETA là: giảm bớt gánh nặng cho doanh nghiệp khi phải trải qua quá nhiều cuộc kiểm định, điều tra, đánh giá và cải thiện việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp từ đó mang đến nhiều lợi ích thực tế đáng kinh ngạc. Các yêu cầu chính của BSCI bao gồm quyền tự do lập hiệp hội và quyền đàm phán tập thể, không phân biệt đối xử, trả công công bằng, giờ công làm việc xứng đáng, sức khỏe và an toàn lao động, không sử dụng lao động trẻ em, bảo vệ đặc biệt đối với lao động trẻ tuổi, không THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 6 cung cấp việc làm tạm thời, không sử dụng lao động lệ thuộc, bảo vệ môi trường, hành vi kinh doanh có đạo đức [11] - Tiêu chuẩn SA8000 được Social Accountability International - SAI tạo ra vào năm 1997 là chương trình chứng nhận xã hội hàng đầu thế giới, cung cấp một khuôn khổ cho các tổ chức thuộc mọi loại hình, trong bất kỳ ngành công nghiệp nào và ở bất kỳ quốc gia nào để tiến hành kinh doanh theo cách công bằng và đàng hoàng cho người lao động và chứng minh họ tuân thủ các tiêu chuẩn xã hội cao nhất.
SA8000 áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống quản lý đối với hoạt động xã hội và nhấn mạnh cải tiến liên tục, không phải đánh giá theo danh sách kiểm tra [12]. - Tiêu chuẩn ISO 26000:2010 [13] hay Tiêu chuẩn hướng dẫn về trách nhiệm xã hội có tên tiếng Anh là: ISO 26000:2010 Guidance on social responsibility. Bao gồm những hướng dẫn tự nguyện, không có các yêu cầu và do đó không phải là một tiêu chuẩn chứng nhận giống một số tiêu chuẩn ISO khác. Tiêu chuẩn này làm rõ trách nhiệm xã hội là gì thông qua các khái niệm, thuật ngữ và định nghĩa liên quan đến trách nhiệm xã hội, bối cảnh, xu hướng và đặc điểm của trách nhiệm xã hội, các nguyên tắc và thực hành liên quan đến trách nhiệm xã hội giúp các doanh nghiệp tìm ra phương pháp chiến lược để tiếp cận với CSR, tổ chức chuyển các nguyên tắc thành hành động hiệu quả và chia sẻ các thực tiễn tốt nhất liên quan đến trách nhiệm xã hội trên toàn cầu.
[13] - TCVN ISO 26000:2013 [14] do Tiểu Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC01/SC1 Trách nhiệm xã hội biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam công bố. TCVN ISO 26000:2013 hoàn toàn tương đương với Tiêu chuẩn ISO 26000:2010, bộ tiêu chuẩn được sự đồng thuận của nhiều bên liên quan, đề cập đến mọi lĩnh vực liên quan đến CSR. Theo TCVN ISO 26000:2013 đặc điểm quan trọng của trách nhiệm xã hội là “Sự tự nguyện của tổ chức trong việc kết hợp những cân nhắc về mặt xã hội và môi trường vào quá trình ra quyết định và có thể giải trình được những tác động của các quyết định và hoạt động của tổ chức tới xã hội và môi trường. Lợi ích của việc thực hiện CSR đối với các doanh nghiệp 1.
Tối ưu hóa hoạt động và duy trì sự bền vững của doanh nghiệp Các tổ chức, doanh nghiệp trên toàn thế giới và các bên liên quan ngày càng nhận thức rõ về nhu cầu và lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội [15]. CSR ở đây bao hàm một ý nghĩa sâu, rộng gồm các vấn đề liên quan đến: cách ứng xử của doanh nghiệp đến các bên liên quan trong quá trình hoạt động như các nhà sản suất, cung ứng nguyên vật liệu, đối tác đến người tiêu dùng. Đồng thời đề cập đến trách nhiệm đối với đội ngũ cán bộ, công nhân viên, người lao động thuộc doanh nghiệp, các vấn đề môi trường, trách nhiệm với sự phát triển của cộng đồng như các hoạt động tình nguyện, nhân đạo, tài trợ, và các vấn đề xã hội khác. Từ đó ta thấy CSR đề cập đến tất cả các khía cạnh cần thiết trong một tổ chức cả về hoạt động đối nội lẫn đối ngoại chứ không THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG.
Lưu hành nội bộ 7 chỉ riêng các vấn đề môi trường. Vì vậy nhận thức sớm và ứng dụng CSR trong tổ chức, quản lý giúp Doanh nghiệp phát triển một cách toàn diện và bền vững, hướng Doanh nghiệp đến hình ảnh một doanh nghiệp tốt, phù hợp với sự phát triển của đất nước, khu vực và thế giới. Với sự phát triển của xã hội như hiện nay, cùng với mục tiêu phát triển bền vững, về lâu dài, mọi hoạt động của các tổ chức phụ thuộc vào sự lành mạnh của hệ sinh thái thế giới và chịu sự giám sát nhiều hơn của các bên liên quan khác nhau. Trong quá khứ, chi phí sản xuất thấp luôn là yếu tố hàng đầu để đạt tới thành công.
Nhưng nay, những khách hàng thông minh trong nước cũng như quốc tế đòi hỏi những nhà sản xuất phải tuân thủ các quy định về xã hội và môi trường, bảo vệ sức khỏe khách hàng, người lao động và cao hơn là có biện pháp phòng, chống tham nhũng, bảo vệ môi trường và có sự gắn kết với cộng đồng. Vì vậy, thực hành CSR cũng là cách duy trì sự bền vững của doanh nghiệp.