CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẦU, PHÂN TÍCH CẦU VÀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY 1.1 Lý thuyết về cầu và phân tích cầu 1.1 Khái niệm về cầu, luật cầu Theo Phan Thế Công (2014),“Cầu ( ký hiệu là D) là số lượng hàng hóa mà người mua muốn mua và sẵn sàng mua lại với các mức giá khác nhau với một khoảng thời gian nhất định, các yếu tố khác không đổi” Muốn mua biểu thị của người tiêu dùng về một hàng hóa nào đó. Sẵn sàng mua biểu thị có khả nằng mua, khả năng thanh toán. Thực tế nếu thiếu hai yếu tố muốn mua và có khả năng mua thì sẽ không tại cầu. Cầu khác nhu cầu, nhu cầu là những mong muốn sở thích của người tiêu dùng nhưng có thể không có khả năng thanh toán.
Nhu cầu của con người là vô tận, dù có hay không có khả năng thanh toán thì người ta vẫn có thế có nhu cầu về sản phẩm. Cầu và lượng cầu cũng có khác biệt. Cầu mô tả hành vi người mua tại một mức giá. Tại một mức giá cụ thể ta có một lượng cầu xác đinh.
Lượng cầu chỉ có ý nghĩa đối với một mức giá cụ thể. Như vậy, chúng ta thấy cầu là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cầu và giá. Theo Phan Thế Công (2014), “luật cầu là số lượng hàng hóa cầu trong khoảng thời gian đã tăng lên khi giá của hàng hóa đó giảm xuống và ngược lại (với giả định các yếu tố khác không đổi)”. Như vậy , giữa giá và lượng có mối quan hệ tỉ lệ nghịch.
Giá hàng hóa tăng thì lượng cầu giảm và ngược lại. Tại sao giá cả lượng cầu và cầu lại có mối quan hệ tỷ lệ nghich như vậy thì ta có thể giải thích như sau: Thứ nhất là do hiệu ứng thay thế phần lớn mọi loại hàng hóa đều có khả năng thay thế bàng loại hàng hóa khác cùng chủng loại, khi giá hàng hóa tăng lên thì lượng cầu hàng hóa giảm và đông nghĩa với việc hàng hóa này có thể bị thay thế bởi các hàng hóa khác trên thị trường có mức giá thấp hơn mức giá của hàng hóa này. Thứ hai là do hiệu ứng thu nhập. Hiệu ứng thu nhập được hiểu là khi giá hàng hóa thay đổi là cho thu nhập thực tế của người tiêu dùng cũng thay đổi.
Khi thu nhập thức tế tăng lên hay giảm đi cũng làm cho lượng cầu về hàng hóa đó cũng tăng hay giảm đi. Như vậy, khi giá cả hàng hóa tăng làm cho nhu cầu thực tế của người tiêu dùng giảm do đó làm cho cầu về hàng hóa đó cũng giảm theo và ngược lại.2 Hàm cầu và đường cầu Ngoài giá của bản thân hàng hóa, khi các yếu tố khác ngoài giá thay đổi cũng sẽ làm thay đổi lượng cầu cho nên ta có thể viết phương trình đường cầu tổng quát có dạng: QX = f(PX, M, PR, T, Pe, N) Trong đó: QX: lượng cầu về hàng hóa hoặc dịch vụ PX: giá của hàng hóa hoặc dịch vụ PR: giá hàng hóa liên quan M: thu nhập của người tiêu dùng N: số lượng người tiêu dùng trên thị trường Pe : giá kỳ vọng của sản phẩm trong tương lai. T: thị hiếu của người tiêu dùng Hàm cầu phổ biến được sử dụng để phân tích là hàm tuyến tính: Qd = a + bP + cPR + eT + fPe + gN Hàm cầu tuyến tính có dạng đơn giản nhất, chỉ phụ thuộc vào giá của hàng hóa đó, các yếu tố khác không đổi. Khi đó hàm cầu có dạng: QD = a – bP (a, b≥ 0) Hoặc hàm cầu ngược: P = (a/b) – (1/b)QD Trong đó: QD là lượng cầu hàng hóa, dịch vụ P là giá hàng hóa, dịch vụ a là hệ số chặn, phảm ánh khi P = 0 thì lượng cầu đạt giá trị lớn nhất là a đơn vị hàng hóa, dịch vụ.
b là hệ số góc thể hiện sự phụ thuộc của lượng cầu vào giá, dấu của b là dấu âm (-) thể hiện: khi giá b thay đổi (tăng lên) một đơn vị thì lượng cầu Q D sẽ thay đổi (giảm xuống) bao nhiêu đơn vị. Đường cầu là đường biểu diễn các mối quan hệ giữa lượng cầu và giá. Các điểm nằm trên đường cầu sẽ cho biết lượng cầu của người mua ở mức giá nhất định. Đường cầu là một đường dốc thẳng xuống, có độ dốc âm và thể hiện theo đúng luật cầu.
Theo quy ước, trục tung biểu diễn giá, trục hoành biểu diễn lượng cầu. Ví dụ: khi thu nhập của dân cư không đổi, giá của sản phẩm thời trang người lớn giảm giảm, cầu về sản phẩm thời trang người lớn sẽ tăng lên, tuân thủ theo đúng luật cầu. 10 Luan van Hình 1.1: Đường cầu thời trang người lớn. P A P1 B P2 D (đường cầu về sản phẩm) Q1 Q2 0 (Nguồn: Giáo trình kinh tế học vi mô 1) Trong đó: P: giá của 1 sản phẩm thời trang người lớn Q: lượng cầu sản phẩm thời trang người lớn D: đường cầu về sản phẩm thời trang người lớn Đường cầu D thể hiện cầu về sản phẩm thời trang người lớn của Công ty Cổ phần Bách Dương là đường cầu có độ dốc âm.
Tại điểm A, giá là P1, lượng cầu về sản phẩm là Q 1, khi giá giảm xuống P2, cầu về sản phẩm tăng lên Q2, cầu tại điểm B 1.3 Độ co dãn của cầu 1.Độ co dãn của cầu theo giá Theo Phan Thế Công, độ co dãn của cầu theo giá là hệ số (tỷ lệ) giữa phần trăm thay đổi trong lượng cầu so với phần trăm thay đổi trong giá của hàng hóa đó. Nó đo lường phản ánh của lượng cầu trước sự biến động của giá cả, cho biết khi giá của hàng hóa tăng 1% thì lượng cầu của hàng hóa đó giảm bao nhiêu và ngược lại. Công thức tính: %∆Q ∆Q P E DP = = x %∆P ∆P Q Trong đó: %∆ Q là phần trăm thay đổi lượng cầu %∆ P là phần trăm thay đổi của giá hàng hóa đó Các trường hợp của độ co dãn 11 Luan van |E DP| > 1 khi |% ∆ Qd| > |% ∆ P| => Cầu co dãn Doanh nghiệp nên giảm giá để tăng doanh thu và ngược lại khi tăng giá sẽ làm giảm doanh thu. |E DP| < 1 khi |% ∆ Qd| < |% ∆ P| => Cầu kém co dãn Doanh nghiệp nên tăng giá bán để tối đa hóa doanh thu.
|E DP| = 1 khi |% ∆ Qd| = |% ∆ P| => Cầu co dãn đơn vị Doanh nghiệp tối đa hóa doanh thu |E DP| = 0 => Cầu không co dãn |E DP| = - ∞ => Cầu hoàn toàn co dãn Việc nghiên cứu hệ số co dãn của cầu theo giá giúp cho các doanh nghiệp đưa ra được chiến lược giá phù hợp để có thể thu về doanh thu cao nhất. Tương ứng với mỗi doanh nghiệp, khi sản phẩm có độ co dãn của cầu theo giá nằm trong khoảng nào thì doanh nghiệp sẽ căn cứ vào đó để đưa ra chiến lượng về giá, như tăng giá để tăng doanh thu hay giảm giá mới tối đa hóa doanh thu, hay doanh nghiệp nên tăng sản lượng bán để thu về doanh thu cao nhất.2 Độ co dãn của cầu theo thu nhập Theo Phan Thế Công, “Độ co dãn của cầu theo thu nhập là hệ số phản ánh phần trăm thay đổi trong lượng cầu so với phần trăm thay đổi trong thu nhập. Hay khi thu nhập thay đổi 1% thì lượng cầu về hàng hóa thay đổi bao nhiêu phần trăm” Công thức tính: D %∆Q ∆Q M EI = = x %∆M ∆M Q Trong đó: %∆ Q là phần trăm thay đổi lượng cầu %∆ M là phần trăm thay đổi thu nhập của người tiêu dùng. Ta có thể xét một số trường hợp: nếu E DM > 1, thì hàng hóa đang xét có thể là hàng hóa xa xỉ, hàng hóa cao cấp; nếu 0 < E DI < 1 thì hàng hóa đang xét có thể là hàng hóa thiết yếu; nếu E DM < 0 thì hàng hóa đang xét có thể là hàng hóa thứ cấp; nếu E DM = 0 thì lượng cầu và thu nhập không có mối quan hệ với nhau.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu 1.1 Yếu tố giá cả của bản thân hàng hóa Giá của hàng hóa có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với lượng cầu, hoàn toàn phù hợp với luật cầu.
Cụ thể, khi giá hàng hóa tăng lên thì lượng cầu về hàng hóa đó giảm và ngược lại, khi giá hàng hóa giảm đi thì lượng cầu về hàng hóa đó tăng lên (với điều kiện các yếu tố khác không đổi). Giả sử chỉ có giá bản thân hàng hóa tác động tới cầu, các yếu tố khác là không đổi 12 Luan van Ban đầu, mức giá tại P1, lượng cầu Q1 tương ứng với điểm lựa chọn A trên đồ thị. Khi giá tăng từ P1 lên P2, lượng cầu giảm từ Q 1 xuống Q2, khi đó điểm lựa chọn tại B. Như vậy có sự dịch chuyển trên đường cầu từ điểm A đến điểm B khi mức giá thay đổi.2 Thu nhập của người tiêu dùng (M) Thu nhập là một yếu tố quan trọng xác định cầu.
Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua của người tiêu dùng. Khi thu nhập tăng lên thì người tiêu dùng cần nhiều hàng hóa hơn và ngược lại. Hàng hóa có 2 loại là hàng hóa thông thường và hàng hóa thứ cấp. Đối với hàng hóa thông thường, khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên thì cầu về hàng hóa thông thường tăng lên, cầu về hàng hóa thứ cấp giảm và ngược lại.
Điều này được thể hiện qua sơ đồ đường Engel. Tuy nhiên, sự phân biệt hàng hóa thông thường, hàng hóa thứ cấp hay hàng hóa xa xỉ chỉ mang tính chất tương đối. Ở mỗi thị trường hay mỗi thời điểm khác nhau thì sự phân loại cũng khác nhau. Ví dụ, thời kỳ chiến tranh của nước ta, xe máy được xem là hàng hóa xa xỉ, nhưng hiện nay khi nền kinh tế phát triển, xe máy là hàng hóa thông thường đối với người tiêu dùng.3 Giá của hàng hóa có liên quan (Pr) Cầu của hàng hóa không chỉ phụ thuộc vào giá của hàng hóa mà còn phụ thuộc vào giá của hàng hóa có liên quan.
Hàng hóa liên quan có thể chia làm hai loại: hàng hóa bổ sung và hàng hóa thay thế. Hàng hóa thay thế là những hàng hóa có thể sử dụng thay cho hàng hóa khác. Ví dụ trong việc lựa chọn mua quần áo thì hàng hóa thay thế cho quần áo có thể là váy. Khi giá của hàng hóa này thay đổi (tăng lên) thì cầu về hàng hóa kia cũng thay đổi (tăng lên).