Luận văn thạc sĩ giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa

Luận văn thạc sĩ đề xuất giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nâng cao năng suất chất lượng cây trồng.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

88
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Khoa Học và Chuyển Giao Công Nghệ ĐBSH

Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu khoa họcchuyển giao công nghệ (CGCN) là hai yếu tố then chốt để nâng cao năng suất, chất lượng, và sức cạnh tranh của các ngành kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Vùng ĐBSH, với truyền thống canh tác lâu đời, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản. Việc thúc đẩy liên kết vùng ĐBSH trong nghiên cứu và CGCN là rất quan trọng để tận dụng tối đa nguồn lực và kinh nghiệm của các địa phương. Theo tài liệu, “phát triển nông nghiệp đã gắn với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người”.

1.1. Vai trò của Nghiên Cứu Khoa Học và CGCN trong phát triển ĐBSH

Nghiên cứu khoa học đóng vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển các công nghệ mới, giống cây trồng vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, quy trình sản xuất tiên tiến. CGCN giúp đưa những kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí sản xuất và tăng thu nhập cho người dân. Sự kết hợp giữa nghiên cứu khoa họcchuyển giao công nghệ giúp tạo ra một chu trình khép kín từ nghiên cứu đến ứng dụng, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao cho vùng ĐBSH. Ứng dụng rộng rãi khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp giúp ĐBSH nâng cao khả năng cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

1.2. Tiềm năng Phát Triển Khoa Học Công Nghệ của vùng Đồng Bằng Sông Hồng

ĐBSH sở hữu tiềm năng lớn cho phát triển khoa học và công nghệ. Vùng có nhiều trường đại học, viện nghiên cứu lớn, tập trung nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao. Nguồn lực đất đai, khí hậu, và đa dạng sinh học phong phú cũng tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới trong lĩnh vực nông nghiệp. Bên cạnh đó, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng với các cơ chế chính sách khoa học công nghệ khuyến khích đổi mới sáng tạo, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển khoa học công nghệ tại ĐBSH. Các chính sách hỗ trợ, đầu tư khoa học công nghệ hợp lý sẽ giúp vùng khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế của mình.

II. Thực Trạng Nghiên Cứu Khoa Học và Chuyển Giao Công Nghệ Tại ĐBSH

Mặc dù có nhiều tiềm năng, hoạt động nghiên cứu khoa họcchuyển giao công nghệ tại ĐBSH vẫn còn gặp nhiều thách thức. Đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ ĐBSH còn hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Hạ tầng khoa học công nghệ còn yếu kém, thiếu các phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm nghiên cứu ứng dụng và khu trình diễn công nghệ. Theo luận văn, “Việc áp dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, hiện đại trong sản xuất nông nghiệp đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, nhưng kết quả mang lại chưa tương xứng”. Liên kết vùng ĐBSH trong nghiên cứu và CGCN còn lỏng lẻo, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp.

2.1. Hạn chế về Đầu tư cho Nghiên Cứu Khoa Học và CGCN ĐBSH

Mức đầu tư khoa học công nghệ cho nghiên cứu khoa họcchuyển giao công nghệ ở ĐBSH còn thấp so với yêu cầu phát triển. Nguồn vốn chủ yếu từ ngân sách nhà nước, trong khi nguồn vốn từ doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác còn hạn chế. Cơ chế tài chính cho nghiên cứu khoa học chưa thực sự khuyến khích các nhà khoa học và doanh nghiệp tham gia. Điều này dẫn đến thiếu hụt kinh phí cho các dự án nghiên cứu, thử nghiệm và CGCN, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng của các hoạt động phát triển khoa học công nghệ.

2.2. Yếu Kém về Hạ Tầng và Nguồn Nhân Lực Khoa Học Công Nghệ

Hạ tầng khoa học công nghệ tại ĐBSH còn lạc hậu, thiếu các trang thiết bị hiện đại, đồng bộ. Các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu ứng dụng, khu trình diễn công nghệ còn ít và chưa đáp ứng được yêu cầu của nghiên cứu khoa họcchuyển giao công nghệ. Nguồn nhân lực khoa học công nghệ tuy đông nhưng chất lượng chưa cao, thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi, có kinh nghiệm thực tiễn. Cần có chính sách thu hút và đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển của vùng.

2.3. Thiếu Liên Kết Giữa Nghiên Cứu Khoa Học và Ứng Dụng Thực Tiễn

Sự liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp còn yếu, dẫn đến khó khăn trong việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Các kết quả nghiên cứu khoa học thường chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và người dân. Cần có các cơ chế khuyến khích sự hợp tác giữa các bên, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh. Chính sách thúc đẩy liên kết vùng ĐBSH sẽ tạo ra sức mạnh cộng hưởng, đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ.

III. Giải Pháp Chính Sách Thúc Đẩy Nghiên Cứu Khoa Học ĐBSH

Để thúc đẩy nghiên cứu khoa họcchuyển giao công nghệ tại ĐBSH, cần có các giải pháp chính sách đồng bộ và hiệu quả. Tăng cường đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên của vùng. Xây dựng và nâng cấp hạ tầng khoa học công nghệ, đảm bảo các điều kiện cần thiết cho hoạt động nghiên cứu khoa học và CGCN. Theo tài liệu, “Việc lựa chọn đề tài ‘Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa’ với mục đích chỉ rõ những bất cập, tồn tại, hạn chế về chính sách”.

3.1. Tăng Cường Đầu Tư và Phát Triển Hạ Tầng Khoa Học Công Nghệ

Cần tăng cường đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác, ưu tiên cho các lĩnh vực có tiềm năng và lợi thế của vùng ĐBSH. Xây dựng và nâng cấp hạ tầng khoa học công nghệ, bao gồm các phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm nghiên cứu ứng dụng, khu trình diễn công nghệ. Phát triển các khu công nghệ cao, khu nông nghiệp công nghệ cao để thu hút đầu tư và phát triển công nghệ mới. Cơ chế tài chính cần tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và các nhà khoa học tham gia vào hoạt động phát triển khoa học công nghệ.

3.2. Hoàn Thiện Cơ Chế Chính Sách Khuyến Khích Đổi Mới Sáng Tạo

Cần hoàn thiện các cơ chế chính sách khoa học công nghệ khuyến khích đổi mới sáng tạo. Tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp và nhà khoa học tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa họcchuyển giao công nghệ. Hỗ trợ bảo hộ sở hữu trí tuệ, khuyến khích đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích. Xây dựng các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và các dự án nghiên cứu khoa học có tính khả thi cao.

3.3. Đẩy Mạnh Hợp Tác và Liên Kết Vùng Trong Khoa Học Công Nghệ

Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứuliên kết vùng ĐBSH trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Thành lập các tổ chức, diễn đàn để các nhà khoa học, doanh nghiệp và các địa phương trao đổi thông tin, kinh nghiệm và hợp tác nghiên cứu khoa học. Xây dựng các chương trình, dự án liên kết vùng ĐBSH trong các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo. Thúc đẩy chuyển giao công nghệ giữa các địa phương trong vùng, tạo điều kiện cho các địa phương tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới.

IV. Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Nông Nghiệp thông qua CGCN ĐBSH

Ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp giúp nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí sản xuất và tăng thu nhập cho người dân. Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất các sản phẩm nông sản an toàn, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Theo luận văn, “Sản xuất nông nghiệp ngày nay không chỉ đơn thuần là cung cấp lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người, mà nhiều quốc gia lấy đó là thế mạnh để phát triển quốc gia mình”.

4.1. Ứng dụng Công Nghệ Sinh Học và Công Nghệ Thông Tin ĐBSH

Ứng dụng công nghệ sinh học trong việc tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, kết nối thị trường. Phát triển các hệ thống canh tác thông minh, sử dụng các cảm biến, thiết bị tự động để theo dõi, điều khiển các yếu tố môi trường, đảm bảo năng suất và chất lượng cây trồng.

4.2. Phát Triển Nông Nghiệp Công Nghệ Cao và Sản Xuất Nông Sản Sạch

Phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, thu hút đầu tư vào các dự án sản xuất nông sản sạch, an toàn. Xây dựng các chuỗi giá trị nông sản, kết nối sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế như VietGAP, GlobalGAP để nâng cao giá trị sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Hỗ trợ doanh nghiệp và người dân xây dựng thương hiệu sản phẩm, quảng bá sản phẩm trên thị trường.

V. Phát Triển Nguồn Nhân Lực KHCN cho Nghiên Cứu và CGCN ĐBSH

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học công nghệ là yếu tố then chốt để thúc đẩy nghiên cứu khoa họcchuyển giao công nghệ tại ĐBSH. Cần có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật. Theo luận văn, “Việt Nam hiện đang là nước nông nghiệp, với nền trồng lúa nước lâu đời, được tích lũy kinh nghiệm từ ngàn năm và đã trở thành quốc gia sản xuất lúa gạo lớn vào bậc nhất thế giới”.

5.1. Đào Tạo và Bồi Dưỡng Nguồn Nhân Lực KHCN Chất Lượng Cao

Xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật. Mời các chuyên gia giỏi trong và ngoài nước tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu. Tạo điều kiện cho cán bộ khoa học đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài để tiếp cận các công nghệ tiên tiến. Khuyến khích các trường đại học, viện nghiên cứu liên kết với doanh nghiệp để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu thực tế.

5.2. Thu Hút và Sử Dụng Hiệu Quả Nguồn Nhân Lực KHCN

Có các chính sách thu hút các nhà khoa học giỏi, các chuyên gia đầu ngành về làm việc tại ĐBSH. Tạo môi trường làm việc thuận lợi, khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới. Có cơ chế đánh giá, khen thưởng xứng đáng đối với các cán bộ khoa học có đóng góp xuất sắc. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào đào tạo và phát triển nguồn nhân lực KHCN.

VI. Định Hướng Tương Lai Phát Triển Khoa Học và CGCN tại ĐBSH

ĐBSH cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu khoa họcchuyển giao công nghệ để phát triển bền vững. Tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, công nghiệp chế biến, dịch vụ logistics. Theo luận văn, “Đứng trước yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hiện đại, chất lượng và hiệu quả, tăng tính cạnh tranh, không chỉ bảo đảm an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đáp ứng nhu cầu xuất khẩu”.

6.1. Tập Trung Phát Triển Các Lĩnh Vực Ưu Tiên Của Vùng

Xây dựng các chương trình, dự án nghiên cứu khoa học và CGCN tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên của vùng. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án phát triển công nghệ mới trong các lĩnh vực này. Tạo điều kiện cho các địa phương trong vùng trao đổi thông tin, kinh nghiệm và hợp tác phát triển.

6.2. Phát Triển Bền Vững và Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu

Ứng dụng khoa học công nghệ để giải quyết các vấn đề về môi trường, biến đổi khí hậu. Phát triển các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và thân thiện với môi trường. Xây dựng các hệ thống canh tác bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng cường công tác dự báo, cảnh báo thiên tai để giảm thiểu thiệt hại cho sản xuất và đời sống của người dân.

27/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1. Cơ sở lý luận về chính sách 1. Khái niệm chính sách Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó có: tiếp cận chính trị học, tiếp cận chính trị học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng hợp.

[5;11] Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây: - Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi. - Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau. Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó. - Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra.

- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối (LUAN.hoa 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hoa thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội). - Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý. Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.” Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau: - Chính sách là một tập hợp biện pháp. Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội.

- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học,.) - Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội. Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó. Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế,. Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu.

Đó là cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách. - Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội. Chẳng hạn, mục tiêu kinh (LUAN.hoa 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hoa doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,. Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau: - Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi.

Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau. - Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới. Như vậy, quá trình làm chính sách thực chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới những bất đồng bộ khác. Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối.

ổn định, có nghĩa là không còn phát triển. - Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra. Khái niệm “Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ” theo một nghĩa nào đó. Định nghĩa của Luận văn Từ những quan niệm trên đây về chính sách, Luận văn sử dụng định nghĩa chính sách: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một/một nhóm mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển chung của xã hội.hoa 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hoa Thuật ngữ “Nhà nước” trong định nghĩa trên đây được hiểu là: - Cơ quan quyền lực nhà nước, bao gồm: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; - Cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm: Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; - Cơ quan tư pháp: Tòa án nhân dân tối cao.

Trong Luận văn này không khảo sát các văn bản của các cấp tòa án địa phương, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp. Khái niệm chính sách khoa học và công nghệ Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đưa ra định nghĩa: “Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia với mục tiêu đạt phát triển quốc gia và nâng cao vị thế quốc gia trên thế giới”. Như vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN. Định nghĩa của Luận văn Trên cơ sở tham khảo khái niệm chính sách mà Vũ Cao Đàm đã đưa ra, Luận văn xin đưa ra quan niệm về chính sách KH&CN như sau: Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do Nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh: - Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp về KH&CN. - Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của (LUAN.hoa 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hoa chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN. - Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN. - Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế - xã hội nói chung.

Tác động của chính sách - Tác động dương tính của chính sách: tác động dương tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách. Tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới. Tuy nhiên, sau khi công bố một chính sách, không phải khi nào cũng chỉ có tác động dương tính, mà còn có tác động âm tính. Tác động âm tính xuất hiện là một tất yếu khách quan, hơn nữa, tác động âm tính chính là cơ sở để suy xét ban hành những chính sách ngày càng có vai trò tích cực hơn trong quá trình phát triển xã hội.

Vấn đề là chủ thể chính sách cần nhận diện đúng các tác động này để không ngừng hoàn thiện chính sách. - Tác động âm tính của chính sách: tác động âm tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách. - Tác động ngoại biên của chính sách: tác động ngoại biên của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự liệu của cơ quan quyết định của chính sách. Trong tác động ngoại biên, người ta lại có thể thấy xuất hiện tác động ngoại biên dương tính và tác động ngoại biên âm tính.

Tác động ngoại biên dương tính, là tác đông ngoại biên góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách.hoa 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hoa Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm thiểu hiệu quả của chính sách. Một chính sách có thể làm xuất hiện một chuỗi tác động kế tục nhau. Các tác động này có thể dương tính, âm tính, ngoại biên. Chính đây là nguyên nhân dẫn đến những tình huống phức tạp khi cân nhắc để quyết định một chính sách.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải Pháp Thúc Đẩy Nghiên Cứu Khoa Học và Chuyển Giao Công Nghệ Tại Đồng Bằng Sông Hồng" trình bày những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong khu vực Đồng Bằng Sông Hồng. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết nối giữa các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và chính quyền địa phương để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích rõ ràng từ việc áp dụng các giải pháp này, bao gồm việc cải thiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp và tăng cường khả năng ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn tốt nghiệp phát triển sản xuất sản phẩm cây hàng năm của nông hộ xã Đức Quang huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về phát triển sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của tỉnh Thái Bình sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp bền vững. Cuối cùng, Luận văn chính sách việc làm khoa học quản lý nông dân thu hồi đất nông nghiệp Hà Nội cũng là một tài liệu hữu ích để tìm hiểu về quản lý đất đai và việc làm trong nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp.