LỜI MỞ ĐẦU LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THU HÚT VÀ DUY TRÌ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Nguồn nhân lực. Nguồn lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động, và có khả năng lao động1. Cần phân biệt nguồn lao động với dân số trong độ tuổi lao động.
Cả hai thuật ngữ trên đều chỉ đến đối tượng trong độ tuổi lao động, song nguồn lao động chỉ bao gồm những người có khả năng lao động còn dân số trong độ tuổi lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động. Lực lượng lao động là một bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm và những người chưa có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc2. Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động3. Vốn nhân lực là tập hợp các kiến thức, khả năng, kỹ năng mà con người tích lũy được trong quá trình đào tạo hoặc làm việc4 Như vậy có rất nhiều cách tiếp cận, tuy nhiên tựu chung lại các nhà nghiên cứu đều có quan điểm, cách nhìn nhận tương đối thống nhất khi dùng khái niệm nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực được hiểu là Nguồn + Nhân lực.
Trong đó nguồn là nơi xuất hiện, nảy sinh một sự vật, hiện tượng hay một nguồn lực nào đó, còn “Nhân lực” Được hiểu là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng trong quá trình sản xuất5. 1 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Kinh tế và quản lý nguồn nhân lực, PGS.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên (2008), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực-, NXB xb Đại học Kinh tế Quốc dân, tr.56 2 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Kinh tế và quản lý nguồn nhân lực, PGS.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên (2008), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, tr.58 3 Bộ Luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamViệt Nnam sửa đổi bổ sung năm 2006, tr8. 4 Bộ Luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamViệt nam sửa đổi bổ sung năm 2006, tr8.TS Mai Quốc Chánh chủ biên (2008), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, tr.TS Nguyễn Ngọc Quân chủ biên (2009), Giáảo trình Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức, Nhà xuất bản giáo dục Việt NamViệt Nnam,Tr6. 7 Thể lực là sức khỏe của thân thể; trí lực chỉ sức suy nghĩ, tư duy, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, kỹ năng, tài năng, năng khiếu, quan điểm; tâm lực là ttinh thần, lý trí, quan điểm, lòng tin, nhân cách của từng con người.
Nguồn nhân lực luôn được xem xét và nghiên cứu trên khía cạnh số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực thể hiện ở quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng nguồn nhân lực hàng năm. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện thông qua các tiêu thức: sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật; Cơ cấu theo tuổi, giới tính, trình độ của nguồn nhân lực,. Chất lượng nguồn nhân lực do trình độ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực của từng quốc gia quyết định.
Đồng thời chất lượng nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Đối với một tổ chức, nguồn nhân lực cũng mang tính quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức phản ánh quy mô và trình độ phát triển của tổ chức đó. Đối với một tổ chức nguồn nhân lực là toàn bộ lao động làm việc trong tổ chức đó.
Theo học giả Trần Kim Dung, nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiếu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của tổ chức do chính bản chất của con người. Mỗi cá nhân có năng lực, đặc điểm tính cách khác nhau, có tiềm năng phát triển khác nhau. Tổ chức được hình thành và phát triển thông qua việc huy động tiềm năng, khả năng, hành vi ứng xử của mỗi cá nhân vào hoạt động của tổ chức.
Như vậy, có thể khái quát lại nguồn nhân lực của một tổ chức “là tổng thể các tiềm năng lao động của mỗi cá nhân trong tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu hình thành, tồn tại và phát triển của tổ chức đó”. Khi một tổ chức quan tâm đến nguồn nhân lực của mình thì không chỉ dừng lại ở việc tập hợp, liên kết những cá nhân trong tổ chức lại mà họ còn phải quan tâm đến việc tạo điều kiện cho tiềm năng lao động trong mỗi cá nhân được bộc lộ và phát triển 1. Thu hút nguồn nhân lực. Thu hút : là lôi cuốn, làm dồn mọi sự chú ý vào6.
6 Tử điển tiếng việt phổ thông-NXB Phương đông, tr881 8 Thu hút nguồn nhân lực: Là hoạt động lôi cuốn nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu đến làm việc tại tổ chức của mình. Hoạt động thu hút bao gồm: Hoạt động tuyển mộ nhân lực, hoạt động tuyển chọn nhân lực(tuyển mộ nhân lực và tuyển chọn nhân lực được gọi là Tuyển dụng nhân lực), hoạt động xây dựng Thương hiệu tuyển dụng. Như vậy thu hút là tổng hòa các hoạt động tuyền tuyên truyền quảng bá, tới đối tượng lao động mà tổ chức hướng đến nhằm mục đích lôi cuốn lao động đến tổ chức của mình ứng tuyển và làm việc.---- có cần trong ngoặc kép ko Tuy nhiên trên thực tế ta thấy có rất nhiều tổ chức thực hiện các hoạt động tuyên truyền quảng bá thông tin tuyển dụng không mạnh mẽ nhưng vẫn thu hút được rất nhiều ứng viên đến tham gia ứng tuyển. Vậy nguyên nhân là do đâu? Vậy hoạt động thu hút còn bao gồm những hoạt động nào nữa? Như chúng ta nhận thấy ngoài các hoạt động Tuyên truyền Quảng bá, đ.
Điều thu hút được sự quan tâm của các ứng viên đó là “Danh tiếng tuyển dụng” hay “ Thương hiệu tuyển dụng” của tổ chức. Trong thời đại Công nghệ thông tin hiện nay một tổ chức nếu có “ Thương hiệu tuyển dụng” sẽ nhanh chóng được quảng bá từ chính những người đang làm việc tại tổ chức, những người đã làm việc tại tổ chức hoặc chỉ là những người đã từng tham gia ứng tuyển tại tổ chức. Thậm chí với một tổ chức đã có “ Thương hiệu tuyển dụng” các ứng viên tiềm năng luôn sẵn sàng chuẩn bị hồ sơ để tổ chức chỉ cần có một động thái nhỏ là họ gửi hồ sơ. Như vậy thu hút là tổng hòa các hoạt động nhằm mục đích lôi cuốn lao động đến tổ chức của mình ứng tuyển và làm việc.
Tuyển dụng nhân lực Tuyển dụng nhân lực là quá trình thông báo, động viên, khuyến khích người lao động cả trong và ngoài doanh nghiệp có đủ tiêu chuẩn tham gia đăng ký vào các chức danh cần tuyển của doanh nghiệp. Những ứng cử viên nào đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của công việc đều được tuyển chọn vào làm việc. Tuyển dụng nguồn nhân lực gồm hai quá trình : Tuyền mộ nhân lực và tuyển chọn nhân lực. + Tuyển mộ nhân lực.
Tuyển mộ là một quá trình thu hút những người có đủ khả năng đến nộp đơn xin 9 việc của tổ chức7. Tuyển mộ là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tổ chức. Mọi tổ chức phải có đầy đủ khả năng để thu hút đủ số lượng và chất lượng lao động để nhằm đạt được các mục tiêu của mình. Quá trình tuyển mộ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quá trình tuyển chọn.
Trong thực tế sẽ có người lao động có trình độ cao nhưng họ không được tuyển chọn vì họ không được biết các thông tin tuyển mộ, hoặc họ không có cơ hội nộp đơn xin việc. Chất lượng của quá trình lựa chọn sẽ không đạt được như các yêu cầu mong muốn hay hiệu quả thấp nếu như số lượng người nộp đơn xin việc bằng hoặc ít hơn số nhu cầu cần tuyển chọn. + Công tác tuyển mộ có ảnh hường lớn đến chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức. Tuyển mộ không chỉ ảnh hưởng tới việc tuyển chọn, mà còn ảnh hưởng tới các chức năng khác của quản trị nguồn nhân lực như: Đánh giá tình hình thực hiện công việc, thù lao lao động; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; các mối quan hệ lao động .Tuyển chọn nhân lực Như đã nói ở trên, quá trình tuyển mộ là quá trình thu hút các hồ sơ ứng viên đến nộp tại tổ chức.
Sau quá trình tuyển mộ ta sẽ có một nguồn các ứng viên, các ứng viên này cần phải được xem xét xem có phù hợp với tổ chức không, quá trình xem xét các ứng viên có phù hợp không, tìm ra những ứng viên phù hợp nhất chính là quá trình Tuyển chọn nhân lực. Như vậy tuyển chọn nhân lực là môt quá trình sàng lọc trong số những người tham gia dự tuyển để có được những người phù hợp nhất với vị trí cần tuyển 8. Thực chất của tuyển chọn nguồn nhân lực chính là sàng lọc các ứng cử viên trong nguồn tuyển mộ đã thu hút được. Quá trình tuyển chọn nhân lực là quá trình đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc, để tìm được những người phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong số những người đã thu hút được trong quá trình tuyển mộ.TS Nguyễn Ngọc Quân chủ biên (2009), Giảo trình Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức, Nhà xuất bản giáo dục Việt NamViệt nam,Tr70 8 PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân chủ biên (2009), Giảo trình Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức, Nhà xuất bản giáo dục Việt nam,Tr70 10 Cơ sở của quá trình tuyển dụng là yêu cầu của công việc đã được đề ra theo bản mô tả công việc, bản yêu cầu đối với người thực hiện công việc và kỹ năng phỏng vấn của người phỏng vấn để có thể tìm ra một người thực sự phù hợp nhất.
Quá trình tuyển chọn phải đáp ứng được các yêu cầu dưới đây: - Tuyển chọn phải xuất phát từ kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch nguồn nhân lực. - Tuyển chọn được những người có trình độ chuyên môn cần thiết cho công việc để đạt tới năng suất lao động cao, hiệu suất công tác tốt.